Vĩnh Minh Tự Viện

Tuesday, Sep 26th

Last update06:32:18 PM GMT

Đường dẫn hiện tại Văn Hóa - Văn Học - Nghệ Thuật Thơ

XUÂN TRONG TA

Email In PDF

Xuân Đinh Dậu - 2017
Tuệ Nguyên – Thích Thái Hòa

Cập nhật ngày Thứ năm, 02 Tháng 2 2017 08:00

Người Mẹ Trong Văn Chương Cổ Điển Trung Quốc

Email In PDF

Trần Văn Chánh

Không hiểu sao, xem trong kho tàng văn chương cổ điển đồ sộ của Trung Quốc, mặc dù nó vẫn lấy ý thức hệ Nho gia phong kiến với nội dung “trung-hiếu” làm đầu, chúng ta lại rất ít thấy có những bài thơ, bài văn viết riêng về người mẹ, hay về tình mẹ.

Cập nhật ngày Thứ sáu, 21 Tháng 8 2015 08:00

Lục Bát Viên Linh

Email In PDF

Tuệ Sĩ

Từ thủa bình minh ấy, khi biển Đông vừa tàn cuộc khói sương, những đợt sóng vỗ bờ, xô nắng mai lên bãi cát, ghi dấu phế hưng của một thời lãng mạn bi hùng; có đoàn người lần theo duyên hải, định hướng chân trời, đâu là phương sinh nhai cho tròn cõi nhân sinh. Không biết tự bao giờ, là thiên mệnh, hay là huyền sử, tôi đọc thơ và yêu thơ từ những chuyện lãng du. Người đi, từng bước để lại phương trời quá khứ, ghi vết tích trên từng dấu chân, để rồi sóng biển xóa nhòa. Ký ức thành mộng tưởng.


Khi mà ký ức còn bị vùi lấp trong những lớp bụi mù phố thị, eo xèo tiếng vọng từ hí trường giả dối, lãi nhãi trên những giá trị phù hoa không thực chất; ngôn ngữ nguyên sơ, tiếng khóc từ khi lọt lòng Mẹ, chỉ là âm vang của ma quỷ tranh nhau trong bóng tối. Ta hay người, bỗng chốc lạc loài trong lòng đất Mẹ. Chợt đồng vọng tiếng ru đâu đó, giai điệu u trầm ấp ủ đàn con từ những ngày dựng nước. Đàn con ra đi theo những lớp phong ba của lịch sử quay cuồng, anh em như những người khách lạ, nhìn nhau mà không biết ai đến từ phương nào. Hình đã đổi khác, mà tâm tư cũng thành cách biệt. Chợt nhận ra một nửa hồn mình khi nghe tiếng khóc của người.

Tôi đi tìm tiếng khóc còn hồn nhiên, để nghe truyện kể bắt đầu từ những hạt mưa trên đỉnh Trường sơn, đổ xuống bình nguyên mà vào Đông hải. Tiếng khóc chào đời hồn nhiên, bởi tình yêu của Mẹ trong điệu ru sáu tám. Một mai, tiếng khóc trong cõi nhân sinh nhuộm máu quân thù để viết thiên lịch sử quan phương, để xóa nhòa huyền sử, thì trong nguyên ngôn, trong tiếng khóc ban đầu, vẫn là khúc hòa âm của huyền sử được viết bằng thơ. Nghe huyền sử, được kể bằng thơ, để yêu mình và yêu người, để còn nghe đồng vọng tình yêu của Mẹ, từ lòng Đất Mẹ. Mai sau dù có bao giờ... Mai sau, khi ta đi đến cuối, hay gần đến cuối, những đoạn đường khổ lụy lưu đày trong cõi nhân sinh này, đã đơn độc giữa toàn anh em mà như khách lạ này, lúc ấy biết đâu ta cũng tình cờ muốn nhẫm đọc những câu thơ như vầy:

Sinh ở đâu mà giạt bốn phương

Trăm con cười nói tiếng trăm giòng

Ngày mai nếu trở về quê cũ

Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.

(Thủy mộ quan 78)

Lời thơ như nửa hận, nửa yêu. Yêu và hận, từ một chân tình diệu vợi:

Tình ta một mối tình câm

Nói ra im lặng, âm thầm tiếng vang.

(Thủy mộ quan, Ngoại vực).

Buồn vui, yêu hận, loanh quanh trong một kiếp người, của một đời lãng tử, lênh đênh qua mấy ngọn hải triều, để nghe trong ta, một thời xa xưa, Lưu Nguyễn lạc lối đào nguyên mà vẫn mơ màng phố thị, hành trang chỉ là một gói hoài niệm trong bóng điện đường, những chuyến xe đò khuya tạnh:

Đêm sâu giữa lũng bò vàng

Điện lu phố nghiệp xe dàn bến không.

(Hóa thân, Kinh cầu nguyện)

Đâu đây, nghe như truyền thuyết của một cuộc lữ hành bất định và bất tận. Từ đó ta nghe da diết một vần thơ, điệu ru huyền sử, huyền thoại về những người con theo Mẹ lên rừng và theo Cha xuống biển:

Nước tôi huyền sử chẳng hoang đường

Lưu Nguyễn rời non mỗi rạng đông

Về kiếm người thân người mất dấu

Nhà xưa tìm đến thấy dâu xanh.

(Thủy mộ quan, 82)

2.

Thế giới thơ – cõi thơ, và thế giới thực của người làm thơ, không là một, và cũng không là hai. Buồn vui với chính mình, với tình đời và tình người, người làm thơ trong khoảnh khắc tan biến vào một thế giới hoang liêu. Đêm dài với ngọn đèn lu; ánh điện đường với bến xe trống vắng. Có thể là như thế. Chỉ trong khoảnh khắc chìm đắm, và tan biến. Tan biến trong thơ để tính thể tồn tại của ta phơi bày như lãng tử bị ném vào một cuộc lãng du vô định và bất tận. Rồi tan biến trong đám người trong các ngõ hẻm, trên hè phố, để vật lộn với nhân sinh, khắc khoải với ngày mai tồn tại hay không tồn tại, với những lợi đắc hay thất, vinh hay nhục, với những viên đạn lạc loài, với những mảnh vỡ bom, mìn, bên vệ đường, trên đê ruộng.

Anh, trong thế giới hiện thực ấy, hằng ngày vẫn phải giao tiếp mọi người, những con người mà “gót danh lợi bùn pha sắc xám”. Bận tâm với số lượng tăng giảm của những tờ nhật trình, với những lời khen chê, những chuyện thị phi phù phiếm, với các giải thưởng. Thế giới thực mà không thực. Thi sỹ, tự trong tính thể, cũng chỉ là một hữu thể tại thế, một mảnh đời được ném ra đó để phải tự mình sáng tạo nên giá trị của sự sống. Ta từ đâu đến? Mọi người đi tìm câu trả lời trong các tôn giáo, triết học. Tín đồ tôn giáo tìm thấy câu trả lời cho định mệnh tồn tại của mình từ tượng Thánh trang nghiêm trên bệ thờ, với những vòng hào quang rực rỡ và tinh sạch, thánh thiện. Sinh viên triết học tìm câu trả lời từ các giáo sư đạo mạo trên bục giảng nghiêm túc của Đại học. Thi sỹ đi tìm câu trả lời từ những rác rưởi của đời sống thường nhật – mà các nhà mô phạm văn hóa gọi là đời sống hiện thực. Những giá trị nhân sinh được thẩm định là cao thượng, thánh thiện, vinh quang, để dành cho các nhà văn hóa quan phương trong các dinh thự cao sang. Giá trị nhân sinh tồn tại nơi thi sỹ chỉ là những mảnh vụn bị bỏ quên. Ưu tư, khắc khoải, hoang vu, sầu muộn, ưu phiền, những từ ngữ chất đầy bóng tối não nùng trong các vần thơ, như là biểu hiệu thái độ ươn hèn, khiếp nhược, trong trường cạnh tranh sinh tồn; là những từ ngữ có nội hàm đen tối trong các pho từ điển triết học. Chất liệu phế thải trong đống rác là những thứ đáng lợm giọng của nhà phú hộ; nhưng là dưỡng chất tồn tại của những người cùng khổ. Chúng hàm giá trị dinh dưỡng không hề nhượng bộ các thứ cao lương mỹ vị khi được tiêu hóa bởi dạ dày của hạng cùng đinh. Thi sỹ tiêu hóa trong thơ mọi thứ hạ liệt thấp kém, những thứ xấu xa vô nghĩa trong đời thường thành những giá trị vĩnh cửu; thành những thực phẩm dinh dưỡng tất yếu cho tính thể tồn tại của nhân sinh. Vậy thì, nhà thơ ấy từ đâu đến?

Nhớ tôi, tiền kiếp rưng rưng

Dài tay địa phủ ôm lưng kẻ nào

(Hóa thân, Tôi)

Từ một tiền kiếp xa xôi nào đó, nơi mà định mệnh nhân sinh được tẩm ướt bằng nước mắt. Những giọt lệ bi thương, hay đấy là những giọt sương long lanh trên ngọn cỏ, đẹp vô chừng thoáng chốc trong ánh ban mai?

Hay từ cõi địa ngục u tối cùng với những thân phận bị đày đọa; ở đó ta có những người thân quen, những bằng hữu chân tình, yêu nhau mà cũng hận nhau, bởi “vì chàng thân thiếp lẻ loi, vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi một mình”?

Phân thân hóa kiếp này thôi

Hồ xa cố thổ chân dời nẻo em

Ba trăm cửa ngục người quen

Lên đây phố rộng đời chen bước hờ.

(Hóa thân, Địa phủ)

Tôi đến từ một thế giới khác anh. Từ một thế giới thần tiên bị lưu đày, bước đi vô cảm trong thế giới xa lạ này; rồi nghe hơi thở từ thơ, - từ thơ anh hay từ Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, từ tiếng khóc oán hận của cung nữ hay từ giọt lệ tình yêu của người chinh phụ, chợt thấy viên đá cuội lăn lóc bên vệ đường cũng chất nặng tình đời, yêu và hận.

Hóa trang làm nhà triết học, tôi dẫm bước lần theo từng gác sách mấy tầng thư viện, thập thò trong các giảng đường mênh mông. Rồi máng áo nhà mô phạm, tôi lang thang trên các vỉa hè, với một nhà thơ, thật như điên mà cũng dường như tỉnh. Chợt bắt gặp anh, ở đâu đó – cứ nói là trong quán lú từ một ngõ hẻm lầy lội; anh trong phong vận thanh lịch hào hoa của thanh niên Hà nội. Tôi chợt tưởng, đâu là tính thể của thơ? Một nửa thế kỷ sau, tôi gặp lại anh, không trực diện, mà trong những câu hỏi:

Ai biết trời cao có mấy chân

Mây bao nhiêu cánh ngục bao hầm

Biển bao nhiêu sóng triều bao nước

Đông Hải bao lâu lại cát lầm?

(Thủy mộ quan, 81)

Người mà đã trải qua bao nhiêu thăng trầm, vinh nhục, qua bao nhiêu sóng gió trường đời, có thể không còn hỏi thơ là gì, đời là gì nữa. Dù vậy, trong trí óc tôi vẫn mập mờ ám ảnh về một hình ảnh, về một cuộc đời hay cõi thơ xa xăm; hình ảnh Nguyễn Gia Thiều mà anh dẫn về như lạc lõng giữa hiên ga tàu hỏa Sàigòn.

Anh nói:

Nguyễn Gia Thiều đêm qua mang áo tơi và mũ nỉ đen về ngồi chơi ở hiên ga Sàigòn, tôi có thấy. Bấy giờ chuyến tàu nhám và khô sắp sửa khởi hành, khói nước và tiếng động, lời chào, một con dơi ngoài cột điện, một đồng hào rớt trong chiếc cốc thủy tinh xanh. Người nói thì thầm như hơi gió trong toa miệng các lỗ thủng, một tiếng ầm của vỏ xe rập ngoài đường.

(Hóa thân, Nói thêm về Nguyễn Gia Thiều)

Đó là thơ hay là câu chuyện kể thường thấy trên các trang nhật báo? Thật khó phân định cái gì thực, cái gì hư, trong thơ và ngoài thơ. Vẫn câu hỏi, thơ là gì, nhưng được nói sảng, một cách tự nhiên hay vô tình, thành câu hỏi, tại sao lại Nguyễn Gia Thiều?

3.

Con người vương giả ấy ngồi trên nhung lụa mà khóc cho thân phận bọt bèo, cho sự đời hư ảo. Thơ của ông vẫn là cái phong vận hào hoa, nỗi hiu hắt trong bóng tối của lầu son gác tía. Rồi một mai lịch sử thiên di, ai đã dẫn ông lang thang giữa chợ đời bát nháo? Thơ dù đi giữa phố chợ ồn ào, lăn lóc trong những ngõ tối lầy lội, nhớp nhúa, vẫn không mất đi cái cốt cách thần tiên, bởi như “Bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó, chốn Đào nguyên anh khoác áo khinh cừu” (Bùi Giáng). Vẫn còn đó, một cõi thơ, và hồn thơ, nâng niu tâm tình của một dân tộc, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, qua những trận lũ tàn khốc của lịch sử.

Nguyễn Gia Thiều “mang áo tơi và mũ nỉ đen về chơi ở hiên ga Saigon”, hay “ngồi xe một mình khi về Lăng Cha Cả”, thì cũng y như những vần thơ lục bát thanh tao chen lẫn giữa những đoạn văn thuật sự. Có thể chăng, do bởi tình cờ của lịch sử, hay do tính chất huyền thoại hoang đường văn minh tiến bộ, mà Nguyễn Gia Thiều lại hội ngộ Rimbaud? Nguyễn Gia Thiều, nhân cách trong lớp áo thượng lưu, bỗng nổi hứng xúi dục cô gái bị ruồng rẫy nổi loạn, “bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.” Rimbaud, cậu học sinh con nhà dân dã, nổi thịnh nộ, đứng dậy chống lại trật tự văn minh, “je suis armé contre la justice”. Một cuộc tương phùng điên đảo, thế nhưng, trong cách nghĩ nào đó, trong một cảm thức thi ca và thời đại như thế nào đó, đấy có thể mường tượng như là hình ảnh, hay ấn tượng một thời thi ca, của miền Nam.

Thơ lục bát của Viên Linh, bên ngoài khoác y trang nho nhã của Cụ Ôn Như; dịu dàng như, “Biển nằm dỗ mộng thùy dương” (Hóa thân, Ký thác); nhưng bên trong lại cưu mang tâm tình nổi loạn của Rimbaud. Anh không nổi loạn để chống lại trật tự đã sắp đặt sẵn ở đó, mà nổi loạn chống lại cái định mệnh đam mê trong chính mình.

Chống lại chính ta, chống lại những xúc cảm bồng bột trong ta, nhà thơ vẫn không thể vượt qua khỏi cái bóng định mệnh của mình. Ở nơi thơ, là một góc nhìn của thế giới, và thời đại; từ đó, để ta nhìn xuyên qua, và nhìn sâu vào, tính thể của tồn tại. Thời đại như bóng câu, đến rồi đi; cái còn đọng lại như là tồn tại của bóng mờ quá khứ.

Ngồi trông cổ tích bay vèo

Muông đi thú lại rừng treo mối sầu


Ngồi trông tóc trắng từng giờ

Chân nhang bụi mọc ta thờ một ta.

(Hóa thân, Bản thân)

Không phải là bóng mờ đơn độc từ nhân cách của nhà thơ. Tính thể tồn tại được ném vào trong dòng chảy thời gian, như Kiều bị ném vào “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”; nhà thơ bị ném vào cuộc nhân sinh, âm thầm ghi dấu phong ba của thời đại.

Thời đại chúng tôi, một phương trời khói lửa, một dân tộc quằn quại nhưng vẫn không mất đi khí phách anh hùng từ thời dựng nước. Khí phách ấy tìm đâu đây trong những lời thơ xót xa thân phận?

Phận nào xác ấy cô liêu

Chim đêm rủ tóc ngồi kêu đường về

(Hóa thân, Buôn Hô)

Từ đây khổ kiếp u hoài

Một tôi ngắn phận cho dài thế gian

(Hóa thân, Tôi II)

Ai có thể biết ngọn cỏ dại tàn úa bên vệ đường vẫn mang trong nó cả một trời thu?

Một lớp thanh niên cùng trang lứa lên đường theo tiếng gọi Núi Sông. Nhà thơ cũng bồn chồn, nửa đêm khoác áo ra đi. Vẫn âm vang câu hỏi nghìn đời, sống và chết, ai còn, ai mất? Bởi những kẻ ra đi không bao giờ trở lại. Bức tranh vân cẩu của thế hệ ấy, của thời đại ấy, cõi nhân sinh ấy, là gì?


Ngõ con bụi đỏ trăm ngày mẹ mang

Xương khô gót chị kinh hoàng

Kẻng khuya đồn lẻ đêm vàng mấy anh.

(Hóa thân, Cõi nhân sinh)

Vậy, phải chăng sinh ra để làm thơ, là một định mệnh? Thời đại và nhân sinh là những trận cuồng phong trên mặt biển, mà từ đáy sâu hun hút, nghìn đời vẫn âm thầm chuyển tải nguyên ngôn của tính thể tồn tại. Ai có thể đào bỏ đi đáy biển, để cho mặt biển nổi sóng? Gạt bỏ đi những lớp phồn hoa của thời đại, dứt đi những sóng gió, bi thương và hùng tráng của một thời, nhà thơ bước đi không ngừng nghỉ, cho dù bị hắt hủi bởi cát bụi từ ngựa xe dồn dập trên đường, đi tìm bóng dáng chân thực của ta và thế giới của quanh ta. Nguyễn Du, trước sau vẫn là bóng mờ bên dòng lịch sử, với câu hỏi trải dài từ thủa hoang sơ: “Trăm năm trong cõi người ta.”

Cõi người ta, như một thung lũng trong bóng tối đêm sau, cho đàn bò ngơ ngác.

Cõi người ta, thành phố điện mờ, mà người bị đẩy vào đó như bởi định mệnh mù quáng, luôn luôn chuẩn bị để lên đường, cho cuộc lữ hành vô định, loanh quanh trên những bến xe hoang vắng.

Đâu là thi ca của một phương trời trong một thời đại lịch sử?

Đêm sâu giữa lũng bò vàng

Điện lu phố nghiệp xe dàn bến không.

(Hóa thân, Kinh cầu nguyện)

Thơ – thơ của anh, và của những người cùng thế hệ của anh, vẫn là một góc nhìn, để từ đó ta nhìn vào thế giới, mà sử tính huyền sử bị xóa mờ để được viết lại thành lịch sử.

Cuối thu, Canh dần, 2010.

Nguồn: gdptvn.org

Cập nhật ngày Thứ tư, 29 Tháng 7 2015 09:46

Trời Thơ Đất Mộng Phiêu Bồng Thi Ca

Email In PDF

Tâm Nhiên

Sương mù bàng bạc ùn lên lãng đãng trộn lẫn với ngàn mây trắng bao la, hòa quyện cùng hương rừng gió núi, chập chùng trên tuyệt đỉnh Hy Mã Lạp Sơn, chờn vờn ngất tạnh bay quanh pháp hội Linh Sơn vào một thời xa xưa, cách đây mấy nghìn năm rồi mà tưởng chừng như mới hôm nào, vẫn còn nghe văng vẳng những lời thơ bất hủ của Thế Tôn vang vọng trầm hùng:

Cập nhật ngày Chủ nhật, 19 Tháng 7 2015 07:42

Thử Bàn Về Thơ Thiền

Email In PDF

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Người ta hay nói về thơ thiền, bàn về thơ thiền; họ đã lý giải rất hay về cái đẹp, về thiên nhiên, về con người, về không thời gian thiền – nhưng “thiền” nằm ở chỗ nào thì thường thiếu sự dẫn chứng cho cụ thể dựa theo câu chữ của văn bản.


Thơ văn Lý Trần là cả một kho tàng văn học thiền để các viện, các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, biên khảo với những công trình độ sộ từ trước đến nay. Dĩ nhiên, những công sức tâm huyết và tế bào não ấy là đáng trân trọng, là niềm tự hào cho nền văn học nước nhà. Tuy nhiên, dường như mọi bình luận, lý giải đôi nơi lại chưa điểm trúng huyệt của giáo pháp, của thiền. Có vị lại “thiên” về nhận thức luận hay bản thể luận - phạm trù triết học Tây phương - có vẻ tân học, thời thượng nhưng nó không ngồi chung “một chiếu phạm trù đạo học Đông phương”. Có vị lại sa đà trong “cảm quan hiện thực chủ nghĩa” để áp đặt tư tưởng cả ngàn năm trước đi theo quan điểm của thời thế! Thơ thiền không những đáp ứng cho cảm quan mỹ học, cho nhu cầu hiểu biết, tăng thêm bề dày kiến thức, vốn liếng văn học, văn học sử trung đại – mà còn ích dụng cho người tu Phật, tu thiền nữa. Sự thật ấy cần được nghiên cứu kỹ để bảo vệ giá trị uyên áo nội tại, mới là kho tàng tâm linh thật sự mà tiền nhân đã để lại cho người học Phật hậu lai chúng ta.

Công trình nghiên cứu thuộc về lãnh vực này có vẻ dài hơi; trong phạm vi nho nhỏ của bài viết này, chúng ta thử khảo sát chừng 5, 7 bài thơ của chư vị thiền sư thời trung đại theo tinh thần dẫn lược.

Và đầu tiên là bài “Hữu không” (有空) của thiền sư Từ Đạo Hạnh.

Bài đó bản Hán như sau:

作有塵沙有,

為空一切空。

有空如水月,

勿著有空空。

“Tác hữu trần sa hữu,

Vi không nhất thiết không.

Hữu không như thủy nguyệt,

Vật trước hữu không không”.

Nó có nghĩa là: “Khởi niệm có thì hạt bụi, hạt cát li ti cũng có. Khởi niệm không thì cả vũ trụ này cũng không. Cái có cái không kia cũng giống như trăng trong nước. Đừng lầm tưởng rằng cái có, cái không ấy là không có (tức là cái có cũng có mà cái không cũng có)”.

Bài này có một số người đã dịch:

“Có thì có tự may may,

Không thì cả thế gian này cũng không.

Kìa xem bóng nguyệt lòng sông,

Ai hay không có, có không là gì!”

(Phan Kế Bính) (1)

Bản dịch khác:

“Có thì muôn sự có,

Không thì tất cả không.

Có, không trăng đáy nước,

Đừng mắc có cùng không” . (2)

Với hai bản dịch thì bài đầu nghiêng về thơ, bài sau nghiêng về kệ; và  cơ duyên của nó là do có người hỏi về Phật tâm – và thiền sư đã đọc lên 4 câu kệ ấy, nhằm khơi mở thế giới “Phật tâm” – là cái gì luôn bị che khuất bởi khái niệm ngôn ngữ. Bài kệ này thì các học viện, nhà chùa giảng rất kỹ. Phạm trù “có không”  ấy bàng bạc trong chư kinh, chư giáo, thiền thoại, ngữ lục... chúng ta không cần thiết phải mang ra đây để làm chứng liệu nữa.

Chỉ có một điều đáng nói ở đây là câu 4. Từ xưa đến nay, dường như ai ai cũng dịch tương tự như hai bài dịch trên: Ai hay không có, có không là gì, hoặc đừng chấp và cái có cái không. Rồi từ đấy lấy hai phạm trù “có không không thực có” rồi đem ra bình giảng. Riêng tôi, tôi dịch câu 4 là: Đừng chấp không “cái có, có không”, nghĩa là cái có cũng có mà cái không cũng có!  

Hãy đi sát vào nội dung văn bản.

Xem nào! Tâm ý khởi có là nó “có”, khởi không là nó “không”. “Cả có cả không đều có cả” trong thế giới duyên sinh tục đế, trong tương quan giữa mình và cuộc đời, khi ta biết quan sát và chiêm nghiệm.

Tôi sẽ có ví dụ cụ thể.

Hôm kia có người đi ra đường bị xe va đụng, có thương tích, chảy máu. Thế là tức quá, hắn ta giả vờ đau đớn lắm, nằm xuống, nhờ người kêu cảnh sát lập biên bản, đòi bồi thường, viện phí...;. Và rồi sau đó, sự việc sẽ kéo theo muôn vàn phức tạp, khổ cho mình, khổ cho người. Khi ta đã khởi niệm có rồi - thì vô lượng cái có sẽ duyên khởi theo. Đấy là định luật, khởi có là nó có – có cái này thì có cái kia - có với tham sân si, phiền não.

Nếu người bị va đụng ấy là một cư sĩ có tu định, tu tuệ, có tấm lòng, biết cảm thông – thì người ấy sẽ chánh niệm đứng dậy, xem vết thương, nó có đau thật, ”đau như thực đau” rồi lại nghĩ: “Ai cũng có lúc sơ ý, bất cẩn! Lại nữa, biết đâu người ta đang có việc bức xúc gì đó trong gia đình, bạn bè hay công sở nên thiếu tỉnh táo mà sinh ra chuyện. Thôi, xả đi, bỏ qua cho người ta”. Thế rồi, vị cư sĩ mỉm cười, nói với người kia: “Anh đừng lo, không sao đâu, vết thương nhẹ thôi mà. Anh hãy đi đi kẽo trể công, trể việc!”

Đấy là trường hợp ta khởi ý không, không có gì – không có cái này thì không có cái kia - thì toàn bộ câu chuyện chấm dứt, phiền não không sanh khởi cho mình cũng như cho người. Lại nữa, khi làm được như vậy thì một đoá hoa pháp thơm tho vừa nở trong tâm - chút ít tâm xả, tâm từ, tâm bi – và năng lương mát mẻ an an lành ấy nó lan toả ra xung quanh môi trường sống thì cao quý và tốt đẹp biết bao nhiêu?

Qua câu chuyện ấy, ví dụ ấy, người học Phật có thể đem “thiền ý” ấy áp dụng trong việc tu tập của mình. Tức là nắm bắt cho được lý duyên sinh tục đế, khởi có là nó có, khởi không là nó không (Ở đây chưa bàn đến duyên khởi, duyên sinh vô ngã tánh, là tánh không). Do vậy, coi chừng, chúng ta càng sính văn chương chữ nghĩa chừng nào thì càng đánh mất ý thiền, ý giáo pháp bên trong chừng đó. Có người lại còn lấy phạm trù hữu, vô của Trung triết mà bình thì lại hỏng. Lấy “sắc tức thị không, không tức thị sắc” để ra vẻ cao siêu mà luận giảng thì oan cho chư Phật ba đời! Lấy vật lý lượng tử, sóng và hạt mà bình giảng có, không cho thích hợp với khoa học lại càng trật nữa!

Tiếp theo, câu ba đưa ra hình ảnh trăng trong nước để ví cho “cái có cái không” ở trên. Cũng vậy, nói trăng có, là nó “có” thật đấy, vì trông thấy trăng. Nói trăng không có, là nó “không có”  thật đấy, vì đưa tay vớt trăng thì không có trăng! Hai mặt nhị nguyên của thực tại ấy tuỳ thuộc ý niệm, chỗ lập tri của mỗi người; “có, không” là chuyện của thế gian pháp muôn đời, không phải là “không có” đâu. Và câu 4, là cái câu quan trong nhất như ta vừa đề cập, chỉ cho người ta thấy được Phật tâm. Ai chưa hiểu ẩn ý ấy, không bám sát ngữ nghĩa của nó – thì đều giảng giải sai lầm, nằm một phía, một chiều cả. Đôi khi lại lấy mộng huyễn bào ảnh của kinh Kim Cang ra mà giảng – thì sẽ không nhằm chỗ. Câu này chỉ có nghĩa đơn giản là: Cái có và cái không kia đều có cả (khi khởi niệm có, khi khởi niệm không). Chữ và nghĩa của nó rất rõ ràng: Vật trước (chớ chấp trước) cái có, cái không (hữu, không) là không (không). Tôi tạm dịch:

“ Có thì bụi cát có,

Không thì tất thảy không.

Có, không trăng trong nước,

Chớ tưởng ‘có, không’ không!

Và đấy cũng là vọng âm ngàn đời từ trong kinh Phật Tự Thuyết (Udāna), khi đề cập đến lý duyên khởi: “Do cái này có nên cái kia có/ Do cái này không nên cái kia không/ Do cái này sinh nên cái kia sinh/ Do cái này diệt nên cái kia diệt”.

Và đức Phật còn nói: “Ai thấy duyên khởi tức là thấy Pháp; ai thấy Pháp tức thấy Như Lai!” Thấy Như Lai cũng là thấy “Phật tâm” theo cách nói của thiền sư Từ Đạo Hạnh: Phật tâm vốn trong lặng, nhưng khi khởi có là nó có, khởi không là nó không, do duyên sinh.

Hy vọng rằng, tất cả chúng ta cùng thấy Phật tâm, thấy lý duyên khởi để tu tập, để lên đường đến cõi an vui vô vi sự, giác ngộ, giải thoát.

Còn nữa, đã là thơ thiền thì phải có trao gởi gì đó cho chúng đồ chứ!

Ví dụ bài “Cáo tật thị chúng” (告疾示眾) của Mãn Giác thiền sư dạy cho học trò:

春去百花落,

春到百花開。

事逐眼前過,

老從頭上來。

莫謂春殘花落盡,

庭前昨夜一枝梅。

“Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tòng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn, hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.

Sau khi đưa đôi mắt bình thường nhìn ngắm vạn vật trong định luật tự nhiên của đất trời, thấy “xuân đi trăm hoa rụng, xuân đến trăm hoa nở”; ngắm nhìn chính mình “việc đời qua trước mắt, trên đầu già đến rồi” – ngài lại đẩy cái nhìn ấy đi xa hơn, sâu hơn, đến “mùa xuân bất tử “của tâm linh: “Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết. Đêm qua sân trước một cành mai!”  (3)

Thơ thiền là vậy.

Có vị thiền sư khác nói về thiền, nhưng mà rất kín đáo, trong đó không hề có một danh từ Phật học nào, dường như chỉ tả cảnh suông mà thôi. Đấy là bài thơ “Tải nguyệt minh quy” (載月明歸) của thiền sư Đức Thành:

千尺絲綸直下垂,

一波才動萬波隨。

夜靜水寒魚不食,

滿船空載月明歸。

“Bách xích ti luân trực hạ thùy,

Nhất ba tài động vạn ba tùy.

Dạ tịnh thủy hàn ngư bất thực,

Mãn thuyền không tải nguyệt minh qui”.

Tôi tạm dịch:

“Trăm thước nhợ câu buông thỏng xuống,

Một làn sóng gợn, gợn muôn trùng.

Đêm khuya, sông lạnh khôn tăm cá,

Về chở đầy thuyền ánh nguyệt không!”

Bài thơ nói về một ông lão đi câu cá: “Ổng đứng trên vực cao cả trăm thước rồi thả nhợ câu xuống sông. Khi lưỡi câu vừa chạm nước, nước gợn một lằn sóng nhỏ rồi sau đó, hằng chục, hàng trăm, hàng ngàn gợn sóng tròn nối tiếp lan ra xa... Ông đứng ông quan sát và ông thấy rõ như vậy. Đêm, khuya yên lặng, nước sông lạnh ngắt, cá không ăn mồi. Thôi, đành vậy, về thôi! Về với chiếc thuyền không. Rồi cái chiếc thuyền không ấy chở đầy ánh trăng và ra về!” Xin thưa, có ông câu nào mà đứng trên vực sâu trăm thước, thả sợi nhợ cả trăm thước? Ông đứng trên vực sâu mà sao khi ra về lại bằng thuyền? Thật ra, người câu là hành giả đang tu Phật. “Trăm thước đầu sào” là thuật ngữ thiền khi nói đến một thực tại ở cao trên đầu khái niệm (đệ nhất nghĩa đế). Tuy nhiên, có vị thiền sư khác, nói là trăm thước đầu sào cũng chưa nhằm, phải là trăm thước đầu sào thêm một thước nữa (hựu nhất xích). Ở tại chỗ đó mà quan sát lý duyên khởi, một niệm khởi là trùng trùng duyên khởi. Vậy, hành giả phải biết tu tập thiền định, đóng hết các căn, đừng cho cá ăn mồi nữa. Sau đó mới tu tập thiền tuệ, mới có được tuệ không, tuệ minh, mới “về chở đầy thuyền ánh nguyệt không”. Ý vị thiền sư này nhắn gởi là phải hạ thủ công phu mà tu tập định, tuệ như vậy sau khi minh sát lý duyên khởi. Còn “bách xích”, “hựu nhất xích” là nói cho có hình tượng chỗ đứng, chỗ nhìn của tuệ tri, tuệ giác mà thôi!

Thiền vị và thi vị mà vẫn rất nghiêm túc, thế đấy!

Còn nữa. Đôi khi vị thiền sư cũng tả cảnh trời nước mây thôi – mà trao gởi tư tưởng rất sâu nhiệm. Ví dụ bài thơ “Ngư nhàn” (漁間) của Không Lộ:

萬里清江萬里天,

一村桑柘一村煙。

漁翁睡著無人喚,

過午醒來雪滿船。

“Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên,

Nhất thôn tang giá nhất thôn yên.

Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán,

Quá ngọ tình lai tuyết mãn thuyền”

Tôi tạm dịch:

“Trời nước xanh xanh, muôn dặm liền,

Làng dâu lạnh giá, khói đông miên.

Ông chài say ngủ, không ai gọi,

Trưa trợt, mây quang, tuyết ngập thuyền!

Nữa, lại ông câu nữa! Nhưng ông câu này sao lại tự tại vô ngại quá trời, quá đất vậy? Giữa cái cảnh mà: Muôn dặm sông xanh tiếp muôn dặm trời xanh, thôn làng lạnh giá chìm trong làn khói nửa thực, nửa hư. Giữa trời nước mênh mông ấy, ông chài ngủ say tít trên chiếc thuyền câu, không ai lay gọi được. Trời đã quá trưa, quang tạnh, tuyết rơi ngập thuyền... Ngủ ngon lành quá nhỉ? Thiền sư gì mà lại nói chuyện ngủ mê dữ vậy? Thật ra, đây là điển hình của nghệ thuật thi pháp thiền tông. Nó không nói bằng những thuật ngữ Phật học dành cho lý trí suy nghiệm, không nói bằng tư duy khái niệm mệt mề khô rỗng - mà nói bằng tư duy hình tượng - tức là những hình ảnh khói sương, những nét chấm phá trời, nước, mây thủy mặc... Đây là ngôn ngữ hình tượng của những cảm xúc giác quan. Hãy xem bức tranh ấy nói lên cái gì? Cứ cảm nhận! Ở đấy, người và vật dường như cùng hòa với nhau làm một? Cái ta bé mọn, nhỏ nhoi, ti tiểu với những lo âu, phiền muộn của cuộc đời chợt như mất tích, mù tăm giữa vũ trụ bao la? Trời-đất-người đều tịnh định, hòa đồng, nhất thể? Hay là tác giả muốn khơi mở thế giới vong ngã, vong pháp - chỉ còn sự sống vô biên thầm lặng dịch hóa đến muôn cùng? Và ta cứ tha hồ mà lý giải! Tuỳ thích, tuỳ nhiệm!

Bây giờ, phần còn lại, đề cập đến thơ của Trần Nhân Tông thì cũng tương tợ vậy, ngài tức cảnh, tức sự, tức tình như các nhà thơ trung đại khác? Có đấy! Vì cuộc đời ngài trải qua nhiều giai đoạn: Thanh thiếu niên, làm vua, hai cuộc chiến tranh Nguyên Mông, làm Thái Thượng Hoàng rồi mới xuất gia là Hương Vân đầu-đà. Tuy nhiên ngài có căn tu từ nhỏ nên một số bài tả cảnh, ta cũng đọc ra tứ thiền ở trong đó một cách dễ dàng.

Đọc thơ Hương Vân đầu-đà, ta phải hiểu rằng, sau khi cả ba phương Bắc, Tây, Nam gươm giáo lặng, ngài trở lại Yên Tử với cảnh tiên, tâm Phật; đặc biệt khi tự xưng mình là Hương Vân đầu-đà, sống đời một khất sĩ khổ hạnh rồi, thì dường như ngài không còn một chút dính mắc gì nơi trần thế nữa, như trong bài “Sơn phòng mạn hứng” (山房漫興):

誰縛更將求解脫,

不凡何必覓神仙。

猿閑馬倦人應老,

依舊雲庄一榻禪。

是非念逐朝花落,

名利心隨夜雨寒。

花盡雨晴山寂寂,

一聲啼鳥又春殘。

“Thùy phọc cánh tương cầu giải thoát,

Bất phàm, hà tất mịch thần tiên.

Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão,

Y cựu vân trang nhất tháp thiền”.

Tôi tạm dịch:

“Trói buộc gì đâu, tìm giải thoát?

Không phàm, hà tất kiếm thần tiên?

Vượn nhàn, ngựa mỏi, người thêm lão,

Như cũ, am mây, một chõng thiền!”

Thấy đó, 4 câu này ta thấy “khoẻ re”! Trước đây, “tâm viên, ý mã”, nhưng bây giờ con vượn ấy đã nhàn nhã thảnh thơi rồi, không lăng xăng, lao xao, nhảy nhót lung tung bắt cành, chuyền nhánh nữa. Và con ngựa có lẽ cũng đã mỏi mệt sau tháng năm phong trần Đông Tây Nam Bắc kiếm tìm mục đính, lý tưởng phù phiếm, hư ảo! Bây giờ già rồi, lão rồi, am mây của ta chỉ còn cái chõng thiền đó thôi!

Còn nữa:

“Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn”.

Tôi tạm dịch:

“Phải, trái, niệm rơi hoa buổi sớm,

Lợi, danh lòng lạnh trận mưa đêm.

Hoa tàn, mưa tạnh, non yên tĩnh,

Còn tiễn xuân tàn, một tiếng chim!”

Thấy chưa? Ý niệm về chuyện phải trái nó rơi theo hoa buổi sớm rơi. Cái tâm về lợi danh nó lạnh ngắt giống như trận mưa lạnh ngắt đêm rồi! Và ngay chính cái rơi, cái lạnh ấy cũng không còn nữa, nó rụng, nó tạnh hết rồi, chỉ còn non yên tĩnh mà thôi. Nơi cái non yên tĩnh ấy, các bậc thức giả có nghe không, có một tiếng chim vừa hót lên, nó đang tiễn xuân đấy! Thật là tuyệt! Kín đáo, ý vị, thi vị, thiền vị đến thế là cùng!

Một bài khác, bài Xuân cảnh (春景):

楊柳花深鳥語遲,

畫堂簷影暮雲飛.

客來不問人間事,

共倚欄杆看翠微.

“Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,

Hoạ đường thiềm ảnh mộ vân phi.

Khách lai bất vấn nhân gian sự,

Cộng ỷ lan can khán thuý vi”.

Tôi tạm dịch:

“Chim hót khoan thai khóm liễu hoa,

Bóng thềm nhà vẽ mây chiều qua.

Việc đời, khách đến thôi đừng hỏi,

Cùng tựa lan can ngắm biếc xa!”

Hai câu đầu là tả cảnh một chiều mùa xuân, có tiếng chim khoan thai hót lên trong khóm dương liễu. Bóng mây chiều đang bay lướt qua bên thềm ngôi nhà vẽ. Khách đến thăm, trong khung cảnh tâm và vật thanh bình, yên ả ấy, đừng nên hỏi gì về việc đời nữa, hãy cùng tựa ở nơi lan can này mà ngắm cảnh trời xanh, mây xanh và non nước đều xanh (thuý vi)... Không những việc đời không buồn hỏi - mà cả trăm việc, ngàn việc cũng như thế: “Muôn việc nước xuôi nước. Trăm năm lòng hỏi lòng” như trong bài Đăng Bảo Đài sơn (登寶臺山):

地寂臺逾古,

時來春未深。

雲山相遠近,

花徑半晴陰。

萬事水流水,

百年心語心.

倚欄橫玉笛,

明月滿胸襟.

“Địa tịch đài du cổ,

Thời lai xuân vị thâm.

Vân sơn tương viễn cận,

Hoa kính bán tình âm.

Vạn sự thủy lưu thủy,

Bách niên tâm dữ tâm.

Ỷ lan hoành ngọc địch,

Minh nguyệt mãn hung khâm”.

Tôi tạm dịch:

“Đất vắng đài thêm cổ,

Xuân sang chửa thắm nồng.

Xa, gần mây núi quyện,

Im, nắng ngõ hoa lồng.

Muôn việc nước xuôi nước,

Trăm năm lòng hỏi lòng.

Tựa lan nâng sáo ngọc,

Đầy ngực ánh trăng trong”.

Rõ ràng là người tu thiền hãy nên quán việc đời, quán cảnh, quán muôn việc, quán pháp vô thường, vô ngã, trôi chảy, dịch hóa, dịch biến; quán tâm, nghe tâm, lắng nghe tâm, quán thế âm, tâm ngữ tâm mà thôi! Không có đâu hiển ngữ rạch ròi như hai câu thơ ấy - cho nên xin ai đó đừng nói về cảm quan thế sự trong thơ ngài mà có tội! Người ta nói, sai một ly đi một dặm; nhưng ở đây chỉ một sợi tơ, sợi tóc là đã cách biệt muôn trùng! Còn lạc quan, yêu đời? Có thế chăng? Tôi đã đọc đi đọc lại hằng chục lần về thơ ngài nhưng chẳng thấy chỗ nào là lạc quan, yêu đời cả. Lạc quan, yêu đời là tốt ư? Nó có tốt hơn nhìn đúng chân tướng của sự vật, của muôn pháp không? Phật ôi! Có lạc thì phải có bi, có yêu thì phải có ghét! Đức đại sĩ của chúng ta sao lại còn phải khòm lưng, cúi đầu trong cái tròng nhị nguyên khốn khổ, tầm thường và tục lụy ấy? Xin thưa, thơ ngài chẳng lạc quan mà cũng chẳng bi quan, đa phần là nói thực, thấy thực, nghe thực, nghĩ thực - thực cảnh, thực tâm - nhưng cái thực cảnh, thực tâm ấy đã được chắt lọc qua cảm xúc tinh tế của nghệ thuật, của thiền tâm rồi!

Ta hãy chịu khó nghe thêm một vài, như bài “Lạng Châu vãn cảnh” (諒州晚 景):

古寺淒涼秋靄外,

漁船蕭瑟暮鐘初.

水明山靜白鷗過,

風定雲閒紅樹疏.

“Cổ tự thê lương thu ái ngoại,

Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ.

Thủy minh sơn tĩnh bạch âu quá,

Phong định vân nhàn hồng thụ sơ”.

Tôi tạm dịch:

“Khói thu, lạnh lẽo mái chùa xưa,

Hiu quạnh, câu thuyền chuông vẳng đưa.

Nước sáng, non yên, âu trắng lượn,

Mây nhàn, gió lặng, đỏ cây thưa”.

Chúng ta để ý, ngoài cái thấy thực, nghe thực, chúng còn: Nước sáng, non yên, gió lặng, mây nhàn... thì sẽ hiểu được cái tâm, cái trí và dụng ý của tác giả. Ở đây, thi sĩ đã sử dụng tu từ mà nhẹ nhàng và trong vắt nên ta thấy rất rõ ràng: Sáng là tuệ; yên, lặng là định; nhàn là tâm! Thế đấy, thực là thơ thiền thì không cần sử dụng ngôn ngữ kinh điển khô khan hoặc khái niệm trừu tượng của lý trí vọng thức đa sự!

Một bài khác nữa. Bài Nguyệt (月):

半窗燈影滿床書,

露滴秋庭夜氣虛。

睡起砧聲無覓處,

木樨花上月來初.

“Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,

Lộ trích thu đình dạ khí hư.

Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ,

Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”.

Tôi tạm dịch:

“Đèn soi nửa cửa, sách đầy giường,

Khí lạnh sân thu rỏ giọt sương.

Thức dậy, mơ hồ chày đập áo,

Trên cành hoa mộc, ánh trăng vương”.

Hai câu đầu là thực, tả thực, một nét phác thảo chắt lọc cảnh. Câu ba là âm thanh ở xa vọng lại, đã đi vào tâm. Câu bốn, nhờ tuệ, nhờ định mà chụp bắt ngay được cái tinh tế của thực tại hiện tiền: Trên cành hoa mộc ánh trăng vừa lên! Tác giả không cần nói “đương xứ tức chân” như Đại Niệm Xứ, như Vipassanā mà vẫn chụp bắt được “cái đang là, cái như thị!” , có phải như vậy chăng?

Thêm một bài nữa, bài “Thiên Trường vãn vọng” (天長晚望):

村後村前淡似煙,

半無半有夕陽邊.

牧童笛裡 牛歸 盡,

白鷺雙雙飛下田.

“Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,

Bán vô, bán hữu tịch dương biên.

Mục đồng địch lý ngưu quy tận,

Bạch lộ song song phi hạ điền”.

Tạm dịch:

“Xóm trước, làng sau tựa khói lồng,

Bóng chiều nửa có, nửa dường không.

Đi trong tiếng sáo, trâu về hết,

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng”.  (4)

Khảo sát văn bản, đúng là một khung cảnh yên ả thanh bình của một ngôi làng quê trong cảnh hoàng hôn, xóm trước làng sau đều chìm trong lớp sương mờ, và bóng chiều lúc ấy nửa dường như có nửa dường như không – vì nó nhạt nhòa, nó lẫn trong khói, trong sương, không phân biệt ranh giới rõ ràng. Đấy chính là cái nhìn như thực, tả thực - chứ không phải như ai đó hơi áp đặt gán cho câu thơ này là muốn hoà đồng vào đại ngã của vũ trụ, hoặc là cái ta chìm mất giữa thiên nhiên! Chính do suy lý, do tư duy lý tính của các nhà nghiên cứu xen vào – đã đánh mất cái hồn thiền bình dị, trong sáng, như thực của văn bản. Còn về tư tưởng, nếu Trần Nhân Tông muốn gởi gắm giáo pháp của mình thì ta phải nghiên cứu chính ngữ lục, thơ và phú của ngài - về cái “bán hữu bán vô” ấy - chứ không thể giải thích hữu vô theo quan niệm của triết sử Trung Quốc. Hữu và vô, có và không, sắc và không – theo Phật giáo là hai mặt của thực tại: Nói có là ý niệm của con người, nói không cũng là ý niệm của con người. Thực tại, nó luôn là cái-đang-là, là thế giới của tánh không, còn hữu và vô là ý niệm của tư duy lý tính! Ai có nghiên cứu Kim Cương bát-nhã sẽ “thấy ra” điều tôi nói. Và chính vua Trần Nhân Tông đã có một tuyên ngôn bất hủ về “cái có, cái không” ấy; ngài đã lấy chày Kim Cương đập vỡ, đập cho tan tành những lý luận, bàn giải về cái có, cái không ấy trong bài kệ “hữu cú, vô cú”:

“Có có không không,

Giây khô cây ngã.

Thầy tu áo vá,

Đau não điên đầu.../

Có có không không,

Lập tông lập chỉ.

Đập ngói, xoi rùa,

Leo núi, lội sông/

Có có không không,

Chẳng có chẳng không...”

Đại lược, chỉ hai chữ này thôi, trong Phật giáo là cả một kho tàng đồ sộ cả ngàn năm nay kể từ khi có mặt kinh Kim Cương bát-nhã, có Trung quán luận của ngài Long thọ - được thiết lập từ duyên khởi vô ngã tính của Nikāya. Không những phải thấy rõ có, không duyên sinh của vạn pháp mà còn “tháo tung cả tám chữ” để sống trong thực tại hiện tiền,(5) ý Trần Nhân Tông còn nói như vậy nữa.

Trở lại với bài thơ, nơi cái bóng chiều “tịch dương biên” ấy, nói có cũng trật, nói không cũng không phải – nên tôi cho câu dịch là “bóng chiều nửa có nửa dường không” – là vọng âm ngàn đời của thực tại vô ngã tính. Sang câu ba bốn cũng là cảnh thực, tả thực: Đàn trâu trở về nhà theo với tiếng sáo của lũ mục đồng! Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng. Đúng là hình ảnh của các làng quê Việt Nam, nhất là những đồng bằng Bắc bộ, tại thôn Thiên Trường. Nhưng tại sao, trâu ra về trong tiếng sáo mà lại “ngưu quy tận - trâu về hết?” Lý ra là phải “đang đi” chứ? Vì nó đang còn “địch lý - trong tiếng sáo” ? Tại chỗ này, không biết sao, mà tôi cứ nghĩ là vua Trần Nhân Tông cố ý gởi gắm tứ thiền trong 10 bức tranh chăn trâu của Thiền tông, nơi bức tranh thứ sáu là cỡi trâu về nhà (kỵ ngưu quy gia), có tiếng sáo đưa tiễn ráng chiều. Khi mà “kỵ ngưu quy gia” rồi thì sau đó là quên trâu còn người (vong ngưu tồn nhân), người trâu đều quên (nhân ngưu câu vong), trở về nguồn cội (phản bổn hoàn nguyên), thõng tay vào chợ (nhập triền thùy thủ) (6). Trần Nhân Tông lúc ấy chỉ đưa ra hình ảnh cỡi  trâu về nhà cùng với tiếng sáo, bức thứ sáu - là thấy rõ mình đã chăn giữ được cái tâm của mình trên đường về nhà rồi. Thế còn: Bạch lộ song song phi hạ điền? Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng! Ở đây tôi chỉ thấy là một bức tranh đẹp. Hai con cò trắng như hai vệt trắng song song đậu xuống cánh đồng xanh. Đôi cò này thật nhàn nhã, yên bình, nó khác xa với cái cò, con cò trong ca dao Việt Nam bao giờ cũng lận đận lao đao, lội bùn, lội ruộng bươn chải kiếm ăn, rủi ro, bất trắc: “Cái cò mà đi ăn đêm, Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”. “ Cái cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non”. Chưa có đôi cò nào yên bình, thanh thản, đồng điệu, đồng cảm, nghỉ ngơi như đôi cò của Trần Nhân Tông cả. Còn tứ thiền, ta có thể nghiệm ra ý thiền trong hình ảnh đó chăng, hay chỉ thuần tuý là cảm quan hiện thực?   

Điều đáng nói nhất là bài thơ “Thiên Trường vãn vọng” này, người ta chỉ phân tích ngữ pháp, câu trúc, hiệu ứng nghệ thuật, đối tượng thẩm mỹ hoặc xem đấy là một bức tranh thanh bình yên ả của một làng quê hạnh phúc, ấm no; là nặng nghĩa nặng tình với quê hương đất nước... Có vị giáo sư lại giảng rất hay rằng: Bài thơ đã tạo dựng bức tranh nông thôn Việt Nam thấm đẫm tình đời, tình người bằng nhãn quan của một thiền giả thi nhân. Thơ Trần Nhân Tông vừa thể hiện tâm thức đạt tới cảnh giới diệu ngộ của Thiền phái Trúc Lâm, vừa thể hiện tâm hồn khát khao hòa nhập vào thiên nhiên, vào cuộc sống đời thường và gởi gắm vào đó những triết lý bình dị mà sâu xa... Khi bình thì bình tuyệt vời như thế, nhưng vị giáo sư không cho ai biết “thể hiện tâm thức đạt tới cảnh giới diệu ngộ của Thiền phái Trúc Lâm” ở chỗ nào? Và “thể hiện tâm hồn khát khao hòa nhập với thiên nhiên” có đúng với tinh yếu thiền không? Và “triết lý bình dị và sâu xa” là ở chỗ nào trong mấy câu thơ ấy? Lại không nghe nói tới! Và qua bài thơ ấy, thiền nằm ở đâu, tư tưởng Phật học, giáo pháp nằm ở đâu? Cũng không nghe ai trả lời!

Tóm lại, bài viết này chỉ là khuyết giải, vụng bàn một số thơ của các vị thiền sư, nó chưa tới nơi tới chốn, hoặc giả sẽ mắc phải một số sai lầm nào đó do căn bệnh chủ quan của lý trí vọng thức – xin chư vị thức giả, trí giả thông cảm cho. Ở đây tôi chỉ muốn xác định rõ ràng, để một số người chưa có cơ hội đi sâu vào nền văn học thiền dễ tưởng lầm hễ cứ tả cảnh, di tích, lịch sử Yên Tử là coi như đấy là thơ thiền non thiêng Yên Tử. Và để cho các thế hệ học Phật, học văn sử thời Trung đại đừng có quá tin tưởng một số giáo sư, phó giáo sư, một số nhà nghiên cứu với những nhãn mác học hàm, học vị là có thẩm quyền “bình luận biện chứng” rồi đem rao giảng tuỳ tiện cho học trò, cho sinh viên của mình làm cho những giá trị tâm linh uyên áo bị chìm khuất bởi những “cảm quan hiện thực” một cách đáng tiếc vậy.

Tất cả chỉ là thiện ý. Mỹ học thiền nó không chỉ dừng lại ở nơi tâm, nơi đạo, nơi các giá trị đức lý dung thường; đôi khi có một số bài thơ thiền - nó ẩn, nó chìm, nó ở cao, ở xa, cô đơn và lạnh lẽo ngoài không gian tâm thức nhị nguyên. Nó bội lý như tiếng vỗ của một bàn tay. Nó dám cả gan nuốt lưỡi mà nói một câu chân đế vậy! Và những ý tưởng vừa hình thành trong đầu óc tôi hoặc vừa viết ra, nó cũng đã “sinh diệt diệc dĩ, tịch diệt hiện tiền” rồi!

Cập nhật ngày Thứ hai, 29 Tháng 6 2015 06:25

Tây Du Ký – Bến Đổ Chốn Bình Yên…

Email In PDF

Hàn Phong Lĩnh

Cập nhật ngày Chủ nhật, 07 Tháng 6 2015 16:21

Trang 1 / 18