Vĩnh Minh Tự Viện

Wednesday, Oct 17th

Last update12:05:08 AM GMT

Đường dẫn hiện tại Tin Tức Hoạt Động Của Vĩnh Minh Tự Viện TIN KHẨN BÁO

TIN KHẨN BÁO

Email In PDF

Hòa thượng Thích Minh Cảnh, viện chủ Tu viện Huệ Quang, vừa mới viên tịch vào lúc 13 giờ 35 phút tại Tu viện Huệ Quang. Thầy trụ trì Vĩnh Minh Tự Viện đang trên đường xuống Sài Gòn thọ tang. Trong lúc chờ đợi mọi thông báo của Ban tổ chức, vinhminh.net xin trân trọng kính tin và đăng tải tiểu sử tạm thời (Chưa biên tập) mà Thầy trụ trì đáng có để tưởng niệm Hòa thượng.

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CẢNH (1937-2018)

I. Thân thế:

Hòa thượng đạo hiệu Thích Minh Cảnh, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 41. Ngài thế danh Nguyễn Hữu Danh, sinh ngày 12 tháng 11 năm Đinh Sửu (1937) tại làng Mỹ Tho, quận Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Thân phụ là cụ ông Nguyễn Minh Biện, pháp danh Minh Chiếu, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Mậu pháp danh Diệu Thiệt. Năm 62 tuổi, cụ bà xuất gia thọ giới Sa di ni. Ngài là người con út, là con thứ 9 (miền Nam gọi là thứ 10) trong gia đình có 9 anh chị em,  với 4 người anh chị xuất gia tu học.

1. Hòa thượng Thích Huệ Hưng, là anh hai, nguyên trụ trì Tổ Đình Kim Huê đời thứ 8, khai sơn Tu Viện Huệ Quang, quận Tân Bình.

2. Hòa thượng Thích Huệ Viên, là anh thứ năm, nguyên trụ trì chùa Sơn Bửu - Vũng Tàu (viên tịch năm 2011).

3. Ni sư Thích Nữ Như Trí, là chị thứ sáu, nguyên trụ trì Tu viện Diệu Đức (viên tịch năm 1978).

4. Ni trưởng Thích Nữ Như Diệu, là chị thứ chín, trụ trì tu viện Diệu Đức, quận Bình Thạnh.

II. Xuất gia tu học và hành đạo:

Vốn sanh trong gia đình trung lưu phúc hậu, nhiều đời kính tín Tam bảo, sâu trồng ruộng phước Tăng già, đặc biệt là có bốn anh chị xuất gia nơi cửa Phật, nên Ngài đã có nhân duyên bén duyên với cửa Phật khi tuổi còn rất nhỏ.
Năm 1945, do ảnh hưởng thời cuộc, ngôi trường ngài học bị đóng cửa, Ngài phải nghỉ học. Trong thời điểm đó, anh Hai ngài (thầy Cả, hòa thượng Huệ Hưng) trở về nhà với hình thức là một thầy tu, và sau đó, không biết do ham học hay do hạt giống bồ-đề nhiều đời nay đã nảy mầm, mà Ngài đã vui mừng theo thầy Cả đến chùa Tổ ở Rạch Cái Bèo để thầy Cả dạy cho học, rồi về chùa Long An ở Sa Đéc thọ học, xuất gia với Hòa thượng Hành Trụ. Do sáng dạ, học nhanh, nhớ dai nên được ban pháp danh Minh Cảnh. (hồi ký ghi Hòa thượng Hành Trụ chỉ đặt tên thôi). Lúc này tuy mới 9 tuổi mà Ngài đã học Minh tâm bửu giám (lúc còn ở nhà), Sa-di luật giải bằng chữ Hán.

Năm 1947, Hòa Thượng thọ giới Sa-di tại chùa Kim Huê (Sa Đéc) với Hòa thượng Chánh Quả.

Đầu năm 1948, Hòa thượng từ giã miền quê sông nước theo Thầy Cả lên nhập học tại Liên Hải Phật học đường đặt tại chùa Vạn Phước, Bình Trị Đông (nay là quận Tân Bình), đánh dấu bước đầu trên con đường tu học mãi về sau trên đất Sài Gòn này. Cũng trong năm này và tại ngôi trường Phật học này, hòa thượng được cố hòa thượng Thích Trí Tịnh chính thức nhận làm đệ tử. Từ đó hòa thượng được theo hầu cận ân sư cũng như nhận được sự chăm sóc dạy bảo của một vị Thầy đúng nghĩa sư tư. Hòa thượng học ở đây cho đến năm 1950.

Năm 1951, Hòa thượng theo hầu Hòa thượng Thích Trí Tịnh tại chùa Sơn Linh Cổ tự (Vũng Tàu). Tuy được theo hầu Thầy, được gần gũi, được dạy bảo nhiều điều, là điều may mắn không phải người đệ tử nào cũng có. Nhưng vốn tính ham học, ham vui vầy với huynh đệ đồng môn, nên Hòa thượng sớm nhớ trường, nhớ lớp, vì vậy, năm 1953 Hòa thượng đã xin Ân sư được trở lại trường để tiếp tục khóa học.

Năm 1953-1954 , Hòa thượng tu học tại Phật học đường Nam Việt đặt tại chùa Ấn Quang, quận 10, Sài Gòn. Nơi đây hòa thượng được gần gũi và học tập với Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, người Thầy tạo cảm hứng trên con đường học tập và phụng sự sau này của Hòa thượng.

Năm 1954-1959, sau khi khóa học tại Ấn Quang kết thúc, theo phong trào thời bấy giờ, Hòa thượng cùng các huynh đệ đồng môn tiếp tục con đường thế học còn dang dở do thời cuộc.

Mùa hè năm 1960, theo sự khuyến khích và gởi gắm của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, hòa thượng khăn gói lên tàu ra đất kinh kỳ, ở tại chùa Từ Hiếu để đi học trường Quốc Học và học chữ Hán với Ôn Quy Thiện. Tuy nhiên, việc học không có mấy kết quả, cộng thêm thời tiết khắc nghiệt nên cuối mùa đông năm ấy, Hòa thượng đành nói lời tạm biệt với chốn Kinh kỳ chưa có nhiều nhân duyên tìm hiểu.

Năm 1960-1961, từ Huế trở về, Hòa thượng tu học tại chùa Tập Thành với thầy Cả, với thân mẫu nay đã xuất gia và với những anh chị em xuất gia trong gia đình.

Năm 1961-1965, một lần nữa, Hòa thượng trở lại con đường học thế học tại trường Chi Lăng trên đường Nguyễn Tri Phương gần ngã sáu, trường Phan Sào Nam trên đường Trần Quý Cáp gần chợ Đũi. Sau đó Hòa thượng học tiếp cho đến tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa. Đây là nền tảng vững bền cho nghiệp thầy giáo, giáo thọ của Hòa thượng sau này và cho đến tận bây giờ.

Năm 1965-1968, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Hòa thượng được cử xuống dạy học tại trường Thoại Ngọc Hầu ở Long Xuyên.

Năm 1968-1975, Hòa thượng dạy học và làm việc tại Đại học Vạn Hạnh (Lê Văn Sỹ).
Năm 1969, hòa thượng thọ giới Tì-kheo tại chùa Huệ Nghiêm, do Hòa thượng Hải Tràng làm Hòa thượng đàn đầu, hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Tuyên luật sư, Hòa thượng Thích Hành Trụ làm Yết-ma A-xà-lê, Hòa thượng Thích Huệ Hưng làm Giáo thọ A-xà-lê.

Năm 1970, Hòa thượng tu học tại Tu viện Huệ Quang đến nay.

Năm 1971-1974, tuy ở tại Tu viện Huệ Quang, nhưng Hòa thượng làm hiệu trưởng trường Bồ Đề Long Khánh, với mỗi ngày hai buổi đi về bằng xe đò.

Năm 1980, được sự ủy thác của thầy Cả, tức cố Hòa thượng Huệ Hưng, Hòa thượng kế thế trụ trì Tu viện Huệ Quang cho đến ngày nay.

Năm 1990, Hòa thượng sáng lập lớp Sơ Cấp Phật học quận Tân Bình.

Năm 1984 - 1991, hòa thượng làm giáo thọ Trường Cao Cấp Phật học khóa I và II.

Năm 1991, với niềm thao thức về giáo dục nội điển, đặc biệt là tâm nguyện phiên dịch bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt, Hòa thượng không quản ngại khó khăn, đã khai giảng lớp Hán Nôm tại trường Đại học Doanh Thương Trí Dũng.

Năm 1992, sau khi lớp Hán Nôm tại trường Đại học Doanh Thương Trí Dũng không đầy đủ nhân duyên tiếp tục, Hòa thượng đã khai giảng lớp Phiên dịch Hán Nôm Huệ Quang khóa I tại chính ngôi chùa mình đang trụ trì. Ba năm sau, việc giáo dục lại gián đoạn, Hòa thượng cùng các tăng ni khóa này đã bắt tay vào phiên dịch bộ Đại Từ điển Huệ Quang, và công trình to lớn này kéo dài trong suốt 10 năm trời, đánh dấu thành quả bước đầu trong công tác phiên dịch sau này của Hòa thượng. Cũng trong thời gian này, Hòa thượng phiên dịch và cho đăng trên tuần báo Giác Ngộ bộ truyện Tế Điên hòa thượng với bút hiệu Đồ Khùng. Sau này được in lại thành sách ba tập.

Đến năm 1999, nhân duyên hội đủ, Hòa thượng tiếp tục khai giảng lớp Phiên dịch Hán Nôm Huệ Quang, và duy trì đến nay đã được 15 khóa học. Tuy học viên tốt nghiệp tại đây không có bằng cấp, nhưng với hệ thống giáo dục nội điển chuyên sâu của Hòa thượng, các học viên ra trường đều có thể trở về làm giáo thọ các môn Kinh, Luật, Luận hệ Hán cổ tại các trường Phật học khắp mọi miền đất nước.

Năm 2007, kết hợp với Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hòa thượng thành lập Trung tâm Dịch thuật Đại tạng kinh Việt Năm, trực thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam đặt tại Tu viện Huệ Quang với gần 20 thành viên hoạt động cho đến hôm nay với nhiều tác phẩm được phiên dịch đã được in như: Phật Tổ đạo ảnh, kinh Xuất diệu, và còn nhiều tác phẩm đang biên tập và đang dịch. Những thành tựu này đã phần nào đóng góp vào sự nghiệp giáo dục tăng tài cũng như hoằng pháp mà hòa thượng luôn thao thức.

Năm 2000, Hòa thượng được đề cử làm Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2012-2017, Hòa thượng được ứng cử làm Phó ban Trị sự GHPGVN, thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2005, cố vấn chứng minh Ban TS GHPGVN quận Tân Phú

Năm 2017, hòa thượng là thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN.

Hòa thượng từng làm Yết Ma các Đại giới đàn tại chùa Phổ Quang, tp. HCM, Đại Tòng Lâm, Vũng Tàu. Đặc biệt là chứng minh nhiều Giới đàn do Giáo hội Làng Mai tổ chức tại Pháp, Thái Lan.

Đã đến với trần gian sanh tử này, dù là một chúng sanh tầm thường hay một bậc vĩ nhân thì vẫn chưa thể thoát ra vòng vây của nhân duyên nghiệp báo từ vô lượng kiếp. Tuy nhiên, với một bậc thượng sĩ xuất trần thì ngoài nghiệp, vẫn còn nhiều hạnh nguyện và nhiều sứ mệnh cao cả với cuộc đời này, để một cuộc dạo chơi trong sanh tử của vị ấy để lại nhiều lợi lạc cho đạo, cho đời. Với Hòa thượng, Ngài thường chân tình chia sẻ với học trò “Tôi tài hèn đức mọn”, hay “Tôi tài không có mà đức cũng không”. Có lẽ đó là lời khiêm nhường của một bậc thầy….Tuy nhiên nhìn lại suốt cuộc đời của Ngài luôn thao thức và nổ lực hi sinh vì sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp hoằng pháp, sự nghiệp trồng người, cho đến những ngày thân tứ đại bất an, tay vẫn chưa buông bản dịch. Hòa thượng đã an nhiên thị tịch vào 13 giờ 35 phút, ngày mồng 03 tháng 09 năm Mậu Tuất (nhằm ngày 11/10 năm 20178), tại Tu Viện Huệ Quang, hưởng thọ 82 tuổi, 49 hạ lạp.