Mục lục bài viết |
---|
Tôn Giả La Hầu La (Mật Hạnh Đệ Nhất) |
Tôn Giả La Hầu La (Mật Hạnh Đệ Nhất) Phần II |
Tất cả các trang |
6.- SA DI ĐƯỌC PHÉP Ở CHUNG PHÒNG VỚI TÌ KHEO:
Khi đức Phật ngự tại tu viện Cù Sư La (Ghosilarama - Ghositarama), có tôn giả Xá Lợi Phất cùng ở bên cạnh. La Hầu La mỗi buổi sáng phải quét dọn sân vườn sạch sẽ rồi mới vào học tập, Vì vườn rất rộng, nên công việc của chú thường phải mất rất nhiều thì giờ. Một hôm, sau khi quét dọn xong, chú theo đại chúng nghe Phật giảng pháp. Đến chiều tối chú trở về phòng thì thấy phòng mình đã bị đại đức tri sự cấp cho một vị khách tăng trú ngụ, tất cả y bát và tọa cụ của chú đều bị bỏ cả ra ngoài.
Nội qui của tăng đoàn có qui định mỗi người ở một phòng. Bây giờ phòng mình bị chiếm thì biết làm sao? Phần vì chú còn là sa di, đối với chư vị ti kheo phải tuyệt đối kính trọng; phần khác, chú lại cần tu tập hạnh nhẫn nhục mà đức Thế Tôn đã từng dạy bảo; cho nên chú đã không dám vào hỏi thẳng vị khách tăng kia vì sao lại chiếm phòng của chú, đành cứ đứng lớ ngớ ở ngoài hiên, chưa biết phải xử trí ra sao. Ngay lúc đó, bỗng nhiên mây đen vần vũ đầy trời, rồi mưa tuôn xối xả. Không còn chỗ nào để trú ẩn, chú liền chạy vào nhà xí thật hôi hám, nhưng chú đành phải ngồi trong đó chứ không còn cách nào khác! Trong một phút một giây, chú thoáng cảm nhận cái nỗi hiu quạnh của một kẻ không có nhà cửa để trở về! Nhưng rồi chú đã thản nhiên thiền tọa ngay trong nhà xí ấy. Chú cố vận dụng lời Phật dạy để giữ tâm ý an tịnh, dù phải trải qua những hoàn cảnh khó khăn hay phải trực diện với những thực tế phủ phàng như thế nào. Sự tu tập của chú lúc này quả có tiến bộ rõ rệt.
Trong khi chú thiền tọa trong nhà xí thì ngoài trời mưa càng lúc càng dữ dội. Những nơi đất thấp đều bị nước ngập. Một hang rắn ở gần nhà xí bị ngập nước, một con rắn đen ở trong đó chui ra và bò dần vào nhà xí. Đó là loại rắn độc nhiệt đới, cực kì nguy hiểm. Tính mạng của chú đang bị đe dọa, nhưng chú hoàn toàn không hay biết gì!
Đức Phật đang tĩnh tọa trong tịnh thất, ngay lúc ấy bỗng nhớ tới La Hầu La. Bằng thiên nhãn, Ngài quán sát thấy được mối nguy hiểm của chú đã gần kề, bèn tức khắc đến ngay nhà xí ấy. Ngài đằng hắng một tiếng. Bên trong có tiếng đằng hắng đáp lại. Phật hỏi:
- Ai ở trong đó?
- Dạ, con là La Hầu La.
- Con hãy ra ngay, ta có chuyện cần nói!
La Hầu La đã nhận ra, đúng là giọng nói của Phật. Thật là ngoài sức tưởng của chú! Chú liền ra khỏi nhà xí, và như quên hết mọi chuyện, chú bất giác ôm chầm lấy Phật, nước mắt chảy đầm đìa ... Dù sao chú vẫn con bé bỏng, cho nên đã không thể kềm chế tình cảm được trong hoàn cảnh này. Phật hỏi chú vì sao phải ngồi trong nhà xí, chú đem mọi việc vừa qua trình lên cặn kẽ. Phật cho phép chú được về tịnh thất của Ngài ở tạm qua đêm. Chú vui mừng không kể xiết, như vừa từ địa ngục bước lên thiên đường!
Những chú bé còn nhỏ tuổi mà đã sớm từ bỏ gia đình để vào sống với tăng đoàn, đúng ra là phải hưởng được sự chăm sóc chu đáo của quí thầy; bởi vậy, Phật đã ra huấn thị, cho phép các chú sa di từ nay được ở chung phòng với quí thầy trong hai đêm. Những việc nhỏ như vậy đức Phật cũng quan tâm đến, cho thấy tình thương của Ngài đối với các chú sa di là như thế nào!
Xưa nay quí thầy khi thu nạp đệ tử thì phải chịu trách nhiệm dạy dỗ đệ tử của mình. Tôn giả Xá Lợi Phất là thầy của La Hầu La, nhưng vì thường bận giúp Phật đi ra ngoài hoằng hóa, nên tôn giả đã không thường xuyên chăm sóc đến chú được. Từ khi sự việc trên xảy ra, tôn giả đã cho chú luôn luôn theo ở bên cạnh mình.
7.- ĐỨC NHẪN NHỤC:
Sau lần bị Phật quở trách nặng nề về tội dối gạt, và từ khi được luôn sống kề cận bên thầy để được thường xuyên dạy dỗ. La Hầu La đã tiến bộ rất nhanh trong công phu tu tập. Bất cứ buổi pháp thoại nào của Phật, tôn giả Xá Lợi Phất cũng dẫn chú theo dự thính. Tôn giả thiền tọa chỗ nào cũng có chú ngồi bên cạnh. Tôn giả đi hoằng pháp nơi đâu cũng đem theo chú theo để chú học tập những kinh nghiệm độ sinh. Mỗi buổi sáng đi khất thực, chú đều theo sau thầy ... Bởi vậy, thuở ấy trong tăng đoàn đã có lời xưng tán rằng, tôn giả Xá Lợi Phất là đức Phật thứ hai, và là bậc ân sư tốt nhất của La Hầu La!
Một hôm chú theo thầy vào thành Vương Xá khất thực. Giữa đường gặp phải một anh chàng du côn. Hắn bỏ cát vào bát của tôn giả và dùng gậy đánh lên đầu chú, gây thương tích, máu nhỏ xuống áo từng giọt. Đã thế hắn còn chửi:
- Mấy lão sa môn kia chỉ biết đi xin ăn để sinh sống, miệng thì nói toàn những từ bi, nhẫn nhục, vậy ta đánh lỗ đầu chúng bây, để thử coi chúng bây làm gì được ta!
Lúc này La Hầu La đã mười bảy, mười tám tuổi. Ở cái tuổi thanh niên ấy mà gặp những trường hợp như thế này thì không thể chịu được. Sự căm giận của chú đã hiện rõ trên nét mặt. Tôn giả thấy thế liền dạy rằng:
- La Hầu La! Đã là học trò của Phật thì ta phải học tập đức tính nhẫn nhục, trong tâm không chứa nọc độc của sân hận, và phải phát triển lòng từ bi, thương yêu tất cả chúng sinh. Phật thường dạy chúng ta, lúc được ngợi khen không sinh lòng cao ngạo, khi bị nhục mạ không để tâm oán hận. Do đó, con hãy giải tỏa lòng căm giận đi và tập nhẫn nhục. Này La Hầu La, trên thế gian không có sức mạnh nào sánh bằng sức mạnh của đức nhẫn nhục. Bất kể lực lượng nào của cõi trời và cõi người, đều không thể thắng nổi người nhẫn nhục.
Vâng lời thầy dạy, chú lặng lẽ tiến đến bờ hồ gần đấy, khoác nước rửa sạch vết thưong, rồi xé một miếng vải nhỏ đắp lên. Tôn giả trông theo từng cử chỉ của chú mà trong lòng vừa thương xót vừa hoan hỉ.
La Hầu La đã nhịn nhục được sự việc vừa qua và tiếp tục theo thầy đi khất thực. Trên đường về, chú đã trình lên tôn giả vài ý nghĩ của mình:
- Sự việc không hay vừa rồi, hiện giờ con không còn để tâm đến nữa. Nhưng con nghĩ, trên thế gian này sao có lắm kẻ ác, đi tới đâu cũng thấy toàn việc đáng chán! Tuy nhiên, con không hận đời, mà chỉ cảm thấy buồn khi nghĩ đến những kẻ thiếu hiểu biết trên cõi đời này sao mà quá nhiều! Đức Thế Tôn từng dạy chúng ta hãy lấy tình thương rộng lớn mà đối xử với người đời, nhưng người đời lại cuồng si ngạo mạn khi dễ chúng ta. Quí thầy tu tập hạnh nhẫn nhục, tích tụ công đức cao dầy, nhưng những kẻ mê muội lại khinh miệt quí thầy và tôn kính những kẻ hung tàn độc ác. Những điều giáo huấn của đức Thế Tôn vừa là chân lí, vừa là tình thương, nhưng người ta lại cho là hôi như xác chết; giống như trời mưa xuống toàn nước mát ngọt mà những con heo thì không biết lầy dùng, lại cứ thích ăn uống những đồ hôi hám và nằm ở những chỗ dơ bẩn! Bởi thế, nếu đem những lời dạy của đức Thế Tôn về chân lí, về tình thương để nói cho những kẻ hung ác và không có căn lành nghe, thì chỉ là vô ích, vì sẽ chẳng có hiệu quả gì!
Đây là lần đầu tiên La Hầu La trình bày với tôn giả về tư tưởng cũng như cái nhìn của chú đối với cuộc đời. Tôn giả lắng nghe và rất hoan hỉ. Về đến tu viện, tôn giả lại đem những điều trình bày của La Hầu La thưa lên Phật, và Phật cũng rất vui. Phật khen ngợi chú hôm nay đã có nhiều tiến triển, có thái độ đúng đắn đối với kẻ ác, có cái thấy đúng đắn đối với cuộc đời. Rồi nhân đó ngài dạy thêm chú:
- Người không biết nhẫn nhục thì không thể thấy được sự hiệu dụng của Phật pháp. Oán người giận đời là đi ngược lại với giáo pháp và xa rời đoàn thể, quẩn quanh trong vòng khổ đau. Có nhẫn nhục mới có bình an và tiêu trừ được tai họa. Người có trí tuệ thì thấy được mối nhân quả sâu xa, do đó sẽ khắc phục được tâm sân hận và triệt để thực hành hạnh nhẫn nhục. Cái nhìn theo tinh thần Phật pháp khác xa với cái nhìn của người thế tục. Những gì mà người đời cho là quí báu thì Phật pháp coi là tầm thường; những điều Phật pháp bảo là tốt, là đúng thì người đời không chịu thực hành theo. Trung và nịnh không dung nhau; kẻ gian tà thì không chịu được sự có mặt của người chính trực; kẻ ác thì không thích đi cùng đường với người hiền; người đầy lòng tham dục thì rất ghét nghe nói đến hạnh vô dục. Trong tình huống hoàn toàn đối nghịch nhau như vậy, người tu hành chỉ nhẫn nhục là tốt nhất. Nhẫn nhục là tàu bè trên biển cả, có thể cứu vớt mọi tai nạn. Nhẫn nhục là thuốc hay, có thể cứu sinh mạng người trong cơn nguy cấp. Nhẫn nhục chính là tăng thượng duyên của người hành đạo, khiến cho sớm chứng quả giải thoát. Sở dĩ ngày nay ta thành chánh giác, một mình bước đi trong khắp ba cõi, nhận được sự kính ngưỡng của cả trời và người, là vì tâm ta đã đủ sức để an ổn. Cho nên con phải biết, đức nhẫn nhục quí báu đối với người hành đạo biết chừng nào!
8.- CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ:
La Hầu La bị người khác chiếm phòng nhưng đã tự ý nhượng bộ, giữa đường bị kẻ côn đồ đánh cho lỗ đầu mà vẫn nhịn nhục, công phu tu dưỡng của chú đến mức đó thì tiến trình giác ngộ chắc không còn xa lắm.
La Hầu La thông minh, lại rất tinh tấn trong việc tu tập. Năm hai mươi tuổi, chú được Phật cho phép thọ giới cụ túc. Chú sa di hay trêu chọc đùa nghịch thuở trước, bây giờ đã trở thành một vị tì kheo trang nghiêm, đường bệ. Lúc còn bé thì hoạt náo như thế đó, mà hôm nay xem cung cách của thầy thì như là một vị lão thành cẩn trọng. Những buổi hội họp đông người, thầy ít khi tham dự; suốt ngày im lìm, chỉ một mực dụng công tu tập.
Nhưng dù dụng công đến thế nào, thầy vẫn không khai ngộ được. Nguyên nhân lớn nhất có lẽ là thầy vẫn chưa quên được cái xuất thân cao quí của mình. Dù sao thì thầy cũng là con yêu của Phật, cháu nội cưng quí của vua Tịnh Phạn. Ngoại trừ những vị đệ tử thượng thủ của Phật ra, phần lớn các vị tì kheo trong tăng đoàn đều kính trọng, ái mộ, khen ngợi thầy. Trẻ tuổi mà thường được tâng bốc thì rất dễ bị động tâm. Lời ngon tiếng ngọt thật đáng sợ như ác quỉ, đã khiến cho La Hầu La, dù tinh tấn rất nhiều, vẫn không chứng ngộ. Thậm chí có một đại đức đã tìm cơ hội hỏi đức Phật về vấn đề chứng ngộ của thầy La Hầu La:
- Bạch Thế Tôn! Đại đức La Hầu La nghiêm trì giới luật, tinh tấn tu tập, một lỗi nhỏ cũng không phạm, dốc lòng cầu được khai ngộ, nhưng vì sao đại đức vẫn không đạt được chí nguyện?
Đức Phật trả lời một cách quả quyết:
- Nếu thật sự giữ gìn giới pháp, giữ tâm thanh tịnh, giữ thân đoan chính, thì nhất định các cặn bã phiền não phải bị tiêu trừ, và dần dần sẽ chứng đạt quả vị giải thoát.
Phật không mấy quan tâm đến việc chưa chứng ngộ của đại đức La Hầu La, vì Ngài tin tưởng rằng, cái ngày trọng đại ấy chắc chắn sẽ đến với đại đức.
Có lần đại đức dường như đã chứng ngộ, nhưng khi trình lên Phật những kiến giải của mình. Phật bảo là đại đức vẫn chưa thành công. Phật dạy đại đức hãy thường thuyết giảng về giáo nghĩa “Thân người là do năm uẩn tạm kết hợp mà có”; và hãy thường xuyên quán chiếu các vấn đề như ngã mạn, ngã, vô ngã, khổ, vui v.v...
Một buổi sáng kia, đại đức theo Phật vào thành Xá Vệ (Sravasti - Savatthi) du hóa. Phật dẫn đại đức đi qua nhiều nơi, hết đường lớn tới hẻm nhỏ, rồi dạy:
- La Hầu La! Thầy hãy quán chiếu để thấy rõ sắc là vô thường; thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường; thân thể và tâm ý của mọi người đều là vô thường; đến cả vạn sự vạn vật đầy dẫy trong thế gian kia, tất cả cũng đều là vô thường. Đã thấy rõ lẽ vô thường rồi thì tâm ta sẽ không còn bị vướng mắc vào đâu nữa.
Vừa nghe mấy lời dạy giản dị của đức Phật, tâm trí của đại đức bỗng bừng sáng ra! Đại đức xin phép Phật một mình trở về tu viện trước, tìm nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế hoa sen, tập trung tâm ý quán chiếu các nguyên lí sâu xa Phật vừa dạy. Đại đức cũng vận dụng phép quán từ bi để trừ khử tâm sân hận; vận dụng phép quán bất tịnh để rửa sạch tâm tham dục; vận dụng phép quán trí tuệ để chuyển hóa tâm si mê; vận dụng phép quán đếm hơi thở để ngưng tụ tâm loạn động; cứ thế, đại đức đi sâu vào đại định ... Cơ duyên đã đến lúc chín mùi, đại đức hoát nhiên đại ngộ!
Phật vừa trỏ về đến tu viện, liền đi ngay đến chỗ đại đức đang ngồi thiền, khai thị thêm:
- Hãy vận dụng tâm từ bi rộng lớn để đối xử với mọi người và mọi loài. Dùng tâm lượng bao la để có thể dung chứa tất cả chúng sinh thì tiêu trừ được mọi phiền não; dùng phép đếm hơi thở để quán chiếu tâm ý thì đạt được đạo quả giải thoát.
Đại đức từ từ đứng dậy, đảnh lễ Phật, rồi thưa:
- Kính lạy Thế Tôn! Tất cả mọi phiền não nơi con bây giờ đã dứt sạch; bây giờ con vừa tỏ ngộ!
Đức Phật vô cùng hoan hỉ, liền khen ngợi:
- Trong tất cả đệ tử của Như Lai, thầy là người tu mật hạnh bậc nhất!
Sở dĩ gọi là “mật hạnh” là vì đối với ba ngàn oai nghi và tám vạn tế hạnh của một vị tì kheo, tôn giả La Hầu La đều nắm vững và hành trì nghiêm mật.
Nhớ lại thuở ban đầu cậu bé La Hầu La chạy theo Phật để xin tài sản, bây giờ đã chứng ngộ, chẳng phải là Phật đã ban cho tôn giả thứ pháp tài vô giá đó sao?!
9.- CHẾ ĐỘ HIẾN CÚNG TỰ VIỆN:
Khi đã chúung ngộ rồi, địa vị của tôn giả La Hầu La trong tăng đoàn càng được đề cao. Đối với tín đồ tại gia, tôn giả cũng được đặc biệt kính mộ. Ai cũng biết, trong chúng tì kheo, tôn giả là người được cúng dường nhiều nhất.
Xưa nay, việc cúng dường vật chất càng dồi dào thì việc tu tập càng dễ bị chướng ngại. Nhưng đối với tôn giả thì không hề gì, vì tôn giả đã không còn bị lụy về vật chất nữa. Bất cứ vật gì, nếu có hơn một cái thì tôn giả liền đem chia cho vị khác.
Một ngày nọ, lúc Phật bố giáo tại một thôn trang gần thành Ca Tì La, có một vị trưởng giả ngưỡng mộ và phát tâm qui y theo Phật. Có lẽ vì có duyên với tôn giả La Hầu La, hoặc là vì nặng tình địa phương, ông đã phát tâm đặc biệt hộ pháp cho tôn giả. Bất cứ tôn giả có nhu cầu gì, ông đều chu cấp đầy đủ. Về sau ông đã xây cất một ngôi chùa để hiến cúng cho tôn giả cư trú. Vào thời buổi đó, số lượng tăng chúng du phương hành hóa đã gia tăng rất đông, nên ngôi chùa của tôn giả lúc nào cũng có khách tăng ghé lại nghỉ chân. Vị trưởng giả thấy thế thì nghĩ rằng, ngôi chùa là của ông hiến cúng, cho nên ông phải đích thân tham dự vào việc quản trị chùa. Tôn giả bèn đem việc ấy thỉnh ý Phật. Phật dạy:
- Thầy La Hầu La! Trong giáo pháp của Như Lai, hàng cư sĩ tại gia không được quản lí bất cứ việc gì thuộc phạm vi của chúng tăng. Dù chư thiện tín có phát tâm hiến cúng tự viện thì họ cũng không thể nại lí do đó để can dự vào việc quản trị tự viện. Thầy nên giảng giải cho vị trưởng giả ấy biết, đã hiến cúng vật gì cho ai rồi thì không nên nghĩ rằng vật đó vẫn còn là sở hữu của mình. Chùa là do chư tăng trú trì; còn chư thiện tín thì giữ vai trò hộ pháp.
Tôn giả y lời Phật mà giảng giải lại cho vị trưởng giả, nhưng vì chưa thấm nhuần Phật pháp lắm, ông vẫn một mực cố chấp, không buông bỏ được ý niệm mình vẫn là sở hữu chủ của ngôi chùa. Vì vậy, cảm tình của ông đối với tôn giả đã bị sứt mẻ. Trước đây ông đã kính mộ tôn giả thật nhiều, nhưng bây giờ ông lại thấy tôn giả như cái đinh trước mắt. Rồi một hôm, tôn giả có duyên sự phải sang thành Xá Vệ. Vị trưởng giả lên chùa thấy vắng tôn giả, bèn thừa cơ hội, đem ngôi chùa ấy cúng dường cho một vị tì kheo khác! Khi tôn giả trở về, thấy sự việc đã như vậy, liền trở lại ngay Xá Vệ để trình cho Phật biết sự tình. Phật nghĩ, người đã không thấm nhuần Phật pháp thì thật khó mà thực hành Phật pháp một cách đúng đắn. Nhân sự việc này, Phật dạy:
- Này quí thầy! Từ nay, nếu có vị thí chủ nào đã hiến cúng vật gì cho thầy này, rồi lấy lại vật đó đem cúng dường cho thầy kia, thì thầy kia không nên nhận.
Không phải là Phật đã thiên vị tôn giả La Hầu La mà ban hành pháp chế, sự thực là vì để tránh những rắc rối về sau cho giáo đoàn. Nhưng rất tiếc, phần nhiều những tranh chấp tài sản trong nội bộ Phật Giáo ngày nay đều bắt nguồn từ những nguyên nhân tương tự.
10.- NHẬP NIẾT BÀN:
- La Hầu La không phải là một nhân vật tiếng tăm lừng lẫy trong tăng đoàn thuở đó như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, A Nan. Tôn giả chỉ chuyên tu mật hạnh, không bao giờ tranh luận, suốt ngày kín tiếng lặng hơi, im lìm tu tập. Tôn giả bẩm tính nhu thuận, kiên cường, nhưng trong nếp sống của một vị tì kheo, tôn giả đã không tỏ ra có gì là sôi nổi cả. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ rằng, trong kinh điển không hề thấy ghi lại bất cứ một hoạt động hoằng pháp hay một cuộc tranh luận với ngoại đạo nào của tôn giả. Tôn giả chỉ là người tinh nghiêm giữ gìn oai nghi tế hạnh; bởi vậy, đúng như Phật đã khen ngợi, tôn giả là vị đứng đầu tăng đoàn về tu mật hạnh.
Tôn giả nhập diệt vào lúc nào? Trước hết, ngay như về ngày sinh của tôn giả cũng đã có hai thuyết, một cho rằng tôn giả ra đời năm Phật mười chín tuổi; một cho rằng tôn giả ra đời năm Phật hai mươi lăm tuổi. Cho nên về niên đại nhập diệt, hiện cũng có hai thuyết, một bản rằng tôn giả đã nhập diệt trước Phật vài năm; một bảo rằng trong giờ phút Phật nhập niết bàn, tôn giả vẫn có mặt bên cạnh Phật.
Ấn Độ là một quốc gia không chú trọng đến việc ghi chép lại những sự thật lịch sử; còn Trung Hoa thì lại không ít những nhà dịch thuật giàu tưởng tượng, hay khoa trương, phóng đại. Những chi tiết không xác thật trong sự tích của Phật và các vị đệ tử lớn được ghi chép trong các kinh điển, cần phải được nghiên cứu lại.
Dựa vào các chứng cứ đáng tin cậy trong kinh điển thì ni sư Da Du Đà La (thân mẫu của tôn giả La Hầu La) nhập diệt năm bảy mươi tám tuổi; còn tôn giả thì nhập diệt trước đó nữa. Kinh chép, một buổi tối nọ, ni sư Da Du Đà La đã quán niệm như sau: “... Các ni sư Kiều Đàm Di, Liên Hoa Sắc (Utpalavarna - Uppadavanna) đều đã nhập diệt; La Hầu La cũng đã nhập diệt! Ta sinh cùng năm với đức Thế Tôn. Năm nay ta đã bảy mươi tám tuổi rồi. Nghe nói năm tám mươi tuổi đức Thế Tôn sẽ nhập niết bàn. Ngày trước vốn có nguyện cùng Người đồng sinh đồng tử, nhưng ngày nay thì giữa ta và Người chỉ có tình đạo chứ đâu còn tình riêng. Cho nên, nếu đợi cùng nhập diệt với Người thì thật là bất kính. Vậy ta nên nhập diệt trước Người thì phải hơn!” Nghĩ vậy, ni sư liền xin phép, và được Phật chấp thuận. Đêm đó, ni sư nhập định rồi nhập diệt ngay trong phòng riêng.
Căn cứ vào sự kiện trên, chúng ta biết tôn giả La Hầu La đã nhập diệt trước cả cha mẹ, vào khoảng trên dưới năm mươi, nhưng không quá sáu mươi tuổi.
Dĩ nhiên, việc nhập diệt sớm hay muộn của tôn giả không phải là việc quan trọng, mà chính sự nghiệp giác ngộ là mục đích tối hậu của người tu hành. Tôn giả đã đạt được nó thì sự nhập diệt chỉ là sự xả bỏ cái sắc thân tạm bợ để an trú vĩnh viễn trong pháp tánh thường hằng mà thôi.
Sưu Tầm
- Liên Tông Đệ Ngũ Tổ Thiếu Khang Đại Sư
- Liên Tông Đệ Tứ Tổ Pháp Chiếu Đại Sư
- Liên Tông Đệ Tam Tổ Thừa Viễn Đại Sư
- Cưu Ma La Thập-Kumarajiva
- Liên Tông Đệ Nhị Tổ Thiện Đạo Đại Sư
- Liên Tông Đệ Nhất Tổ Huệ Viễn Đại Sư
- Tôn Giả A Nan (Đa Văn Đệ Nhất)
- Tôn Giả Ưu Ba Ly (Trì Giới Đệ Nhất)
- Tôn Giả A Na Luật (Đệ Nhất Thiên Nhãn)
- Tôn Giả Đại Ca Diếp (Đầu Đà Đệ Nhất)
- Tôn Giả Ca Chiên Diên ( Luận Sư Đệ Nhất)
- Tôn Giả Tu Bồ Đề (Giải Không Đệ Nhất)