Vĩnh Minh Tự Viện

Sunday, Dec 17th

Last update03:45:22 AM GMT

Đường dẫn hiện tại Phật Giáo Phật Giáo và Khoa Học VÔ SẮC TƯỚNG & NĂNG LƯỢNG TỐI CỦA VŨ TRỤ, VÀ 18 CĂN TRẦN THỨC CỦA PHẬT GIÁO

VÔ SẮC TƯỚNG & NĂNG LƯỢNG TỐI CỦA VŨ TRỤ, VÀ 18 CĂN TRẦN THỨC CỦA PHẬT GIÁO

Email In PDF

Lê Huy Trứ

Vừa mới đây, những khoa học gia đã xác nhận rằng những vật hiện hữu được trong vũ trụ chỉ có chừng 5 phần trăm trong vũ trụ.  Phần còn lại 23% là chất tối (dark matter) và 72% là năng lượng tối (dark energy) không trực tiếp thấy được bằng nhục nhãn.

Recently, scientists confirmed that the observable ordinary matters in the Universe are made up only 5% of the Universe.  The rest of the Universe are filled with 23% dark matter and 72% dark energy, which cannot be directly observed.  While dark matter permeates every galaxy in the Universe, dark energy is like the powerful gravitational waves ‘pulling’ the expansion of spaces between the galaxies.  However, both dark matter and dark energy are still the biggest mysteries in a Universe.

Nói theo ngôn ngữ Bát Nhã của Phật Giáo, sắc tất thị 95% không; không tất thị 95% vô sắc tướng.  Trong đó, 23% là vô minh tạng (dark matter) và 72% là năng lượng tối (dark energy.)  Vũ trụ tối (dark universe) ‘đầy cái Không’ quang minh tạng và Không tam hỏa chân muội (emptiness of visible light and known energy.)  Dĩ nhiên, trong Vũ trụ tối đó không bao giờ có ngũ uẩn để mà chiếu kiến mà giai không đừng nói chi đến lục căn, lục trần và lục thức.

I would like to use the concept of Buddhism Heart Sutra to express my thoughts:  Form is 95% emptiness in a dark universe; emptiness is 95% of form where 23% is full of dark matters and 72% is full of dark energy but 5% emptiness of observable forms and known energy.  Where observable side is 95% emptiness of dark matters including dark energy and 5% is full of observable forms and known energy.  Of course, in that dark universe, there is neither 5 aggregates nor 18 spheres existed for us to discuss the ‘existence of their emptiness.’

‘Nature & Consciousness, Architects of the Universe’ tóm lược những điểm chính của ‘vô tướng sắc’ và ‘chân lực tối’ này như sau:

The ‘Nature & Consciousness, Architects of the Universe’ summarized the following foremost facts about dark matter and dark energy:

·  Dark matter interacts with gravitational waves
o  Vô sắc tương tác với sóng nhân duyên và lý nhân quả
·  Dark matter does not interact or colliding with observable matters
o  Vô sắc không tương tác hoặc va chạm với sắc (forms.)  Sắc là sắc, không là không !
·  Dark matter does not emit light or absorb light
o  Vô sắc không phản chiếu ánh sáng hoặc hấp thụ quang minh.  Nhưng vô tướng sắc không phải là vô minh; vô sắc tướng là ‘anh minh.’
·  Dark matter permeates the galaxies where billion of them pass through us every second
o  Vô lượng, vô tướng, vô sắc này nó đi xuyên qua vật chất ngũ uẫn giai không (cấu tạo từ 95% emptiness, lỗ hổng chân như) trong từng sátna.
·  Dark energy is repulsive
o  Năng lượng tối bất khả tư nghì.
·  Dark energy does not come from dark matter as it is repulsive with dark matter (it is believe that dark matter would have ‘pulled’ the galaxies together than pushing them apart).
o  Năng lượng tối không phải từ vô sắc tướng và như nó xô đẩy với vô sắc.  Thực tại được hiểu là vô sắc tướng ‘kéo’ những giải thiên hà lại với nhau thay vì đẩy ra.  Nghiệp hấp dẫn ‘nghiệp’ và tùy theo nhân duyên mà hợp tan!  Chữ ‘kéo’ (pull) này được dùng rất tuyệt diệu bởi kiến thức của khoa học gia và chỉ có người có chút trí tuệ Phật Đà mới hiểu được chữ ‘kéo’ (pull) này thay vì ‘thu hút’ hay hấp dẫn (attract.)

Có người tin vô sắc (dark matter) and chân lực vô hình (dark ernergy) có thể là lòng Bồ Đề hay Phật Tâm.  Theo tôi đoán, Bồ Đề Tâm có thể có trước ngũ uẩn và nó nguồn gốc cấu tạo ra toàn thể vũ trụ, sáng cũng như tối.

People believed the dark matter and dark energy could be the consciousness particles or consciousness energy.  But consciousness energy probably precedes consciousness particles as consciousness energy is the source of all creation in a universe.

Lòng Bồ Đề hay tâm thức tạo nên, kiểm soát, và thao túng sắc, vật chất hiện hữu.  Những sum la vạn tượng này tương ứng và tương tác lẩn nhau.  Từ nhân duyên, nghiệp quả từ vô lượng mà đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu để tạo ra hàng hà sa số thiên hà, tinh tú, thái dương hệ, trái đất, thảo mộc, chúng sinh cùng nhân sinh.   Những quá trình tiến hóa cấu tạo này đi từ vy mô đến vỹ mô của vật chất và có thể tưởng tượng như là công trình điêu khắc của Phật ngàn tay, kéo khâu, đan lưới đế châu của vũ trụ.

Consciousness energy creates, controls, and manipulates consciousness particles for such creation.  These consciousness particles are interconnected to or intertwined with each other.  At the beginning of the Universe, some of these consciousness particles are used to create quarks, electrons, and photons...   Later they are formed into protons and neutrons.  Subsequently, the planets, stars, galaxies, solar system including earth and the consciousness particles are formed as well as the sentient beings including human beings.

The remaining consciousness that do not make any particles create the countless circular/spiral waves – from the smallest size of a quark, to the size of a planet, a star, and a galaxy  –  are similar to or the same as the gravitational waves.  These waves are like electrons orbiting the nucleus of atoms, planets orbiting stars, stars moving around the galaxies.  We can imagine the consciousness energy is like the Buddha with thousand hands and the seas of current consciousness particles as a giant three-dimension web, the circular waves are created by the Buddha’s hands, which permeate into, and pulling and stirring a giant Indra's web (also called Indra's jewels net or Indra's pearls, Sanskrit Indrajāla.)

Ngài Thế Thân (Vasubandhu) đã chứng minh nguồn gốc của vũ trụ nguyên từ tâm sinh.  Lý thuyết của Thế Thân định nghĩa về Tâm Thức qua dạng chân lực hấp dẫn tạo ra tất cả vạn vật trong vũ trụ kể luôn những luật quản trị vũ trụ.  Chủ thể của tâm là đối tượng của thức.  Mổi hiện tượng tâm lý được xem như là nội dung hoặc con đường đi tới chân lý.  Cái chủ tâm này, cái ý tưởng của tâm thức hình như tự chứa thực tại, sau này nó đã thường sống hiển hiện trong Phật tánh (Tri Kiến Phật.)

Vasubandhu already proved the birth of the Universe is caused by the consciousness energy.  Vasubandhu’s theory is definite in saying Consciousness, in the form of energy, create very thing in the Universe – including the laws governing them.  Consciousness (the subject) is always consciousness-of (the object.)  Every mental phenomenon refers to a content or direction toward an object. This is the intentionality of consciousness, the idea consciousness somehow contains its content, the latter as it were being always manifesting "in" sub-consciousness.

Phật Giáo cũng còn định nghĩa rất rốt ráo về cấu trúc của 18 giới.  Nơi lục căn là nguồn gốc của vũ trụ và kiến trúc của nó dựa vào căn bản của ngũ uẩn.  Sự sống với các uẩn lôi cuốn và bám trụ bởi lục căn tiếp xúc với lục trần tạo ra lục thức và thành ra 18 cái vô minh giới ‘kéo’ (pull) theo cái khổ não (suffering) của chúng sinh.

The Buddhism has also defined very well the architecture of Eighteen Spheres/Elements (Dhaatu) that bear their own characteristics or intrinsic nature (attano sabhaavam dhaarentiiti dhaatuyo) [Vism. p. 41] where the six Consciousness is the source of all creation in the Universe and the architecture is based on the Five Aggregates.  For life forms with sense-organs, they follow the appendage of architecture, which is the Twelve Spaces and the Eighteen Spheres.  The relationship between the 5 aggregates of human personality (pa~nca-kkhandha // pa~nca-skandha) and 12Spaces (aayatana) as well as 18 Spheres (dhaatu) is epistemologically significant.  While 12 Spaces (aayatana) are located within the category of as 18 Spheres (dhaatu,) the six consciousness/6 sense-organs belonging to both of 12 Spaces (aatayana) and of 18 Spheres (dhaatu,) and 6 fold consciousness (vi~n~naa.naa) of 18 Spheres (dhaatu) can be placed under the category of 5 aggregates of sentient being/human personality (pa~nca-kkhandha // pa~nca-skandha.)  Simply, 6 sense-organs +  6 sense-data/ objects + 6 resultant consciousnesses = 18 elements/spheres)

Trong Phá Mê Khai Ngộ, Chương 26. Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức, Lê Sỹ Minh Tùng tóm tắc rất rỏ ràng đầy đủ về ngũ uẩn giai không, “Ngũ uẩn tự nó không có được, mà là do nhân duyên kết thành nên tự nó không có tự tánh hay chủ thể tức là vô ngã. Nhưng một khi mà do nhân duyên kết hợp thì nó làm sao cố định cho được. Trước khi nhân duyên hòa hợp nó chưa có, sau khi nhân duyên ly tán thì nó cũng tiêu tan theo.”

Liên quan giữa sắc tướng, ngũ uẩn, lục căn trần và 18 giới thức
Relation between Naamaruupa, 5 Khandha, 6 Aayatana and 18 Dhaatu

Naama-Ruupa
(sắc danh)
5 Pañca-skandha (ngũ uẩn, zh. wǔyùn 五蘊) 6 Dhaatu
(6 phân tử)
12 Aayatana
(căn trần)
18 Dhaatu
(18 giới thức)

Ruupa
(sắc, form)
1. Aggregate of form (zh.色; sa., pi. rūpa), Sắc uẩn 1. earth (thổ, (pa.thavi)
2. water (Thủy,aapo)
3. fire (hỏa,tejo)
4. air (khí,vaayo)
5. space (không gian, akaasa)
1. eye (mắt,cakkhu)
2. ear (tai,sota)
3. nose (mũi,ghaa.na)
4. tongue (lưỡi,jivhaa)
5. body (thân,kaaya)
7. the visible (thấy, ruupa)
8. sound (nghe,sadda)
9. smell (ngữi,gandha)
10. taste (nếm,rasa)
11. touch (sờ,pho.t.thabba)
12. some Pháp,dhamma
1. mắt (eye, cakkhu)
2. tai (ear, sota)
3. mũi (nose, ghaa.na)
4. lưỡi (tongue, jivhaa)
5. thân (body, kaaya)
7. thấy (visible, ruupa)
8. nghe (sound, sadda)
9. ngửi (smell, gandha)
10. nếm (taste, rasa)
11. sờ (touch,pho.t.thabba)
12. pháp (some, dhamma
Naama
(danh, name)

5. Aggregate of consciousness
(zh. 識, sa. vijñāna, pi. viññāṇa), Thức uẩn

along with
2. aggregate of feeling (vedanaa-kkhandha) Thọ uẩn
3. aggregate of perception (zh. 想, sa. saṃjñā, pi. saññā), Tưởng uẩn
4. aggregate of disposition (zh. 行, sa. saṃskāra, pi. saṅkhāra), Hành uẩn


6.consciousness (viññāṇa), Tâm thức
6. mind (tâm trí, mano)
12. some Pháp,dhamma
6. thức (mind, mano)
12. pháp (some, dhamma
13. thức thấy (visual consciousness,
cakkhu-viññāṇa)
14. thức nghe (auditory consciousness, sota-viññāṇa)
15. thức ngửi (olfactory consciousness, ghaana-viññāṇa)
16. thức nếm (gustatory consciousness, jivhaa-viññāṇa)
17. thức xúc (tactile consciousness, kaaya-viññāṇa)
18. tâm thức (mental consciousness, mano-viññāṇa)

Chúng sinh, đặc biệt nhân sinh có cùng cấu tạo lượng tử, tế bào, tính linh giống như vật chất, thiên hà trong vũ trụ.  Tất cả được cấu tạo rất tinh vi từ căn bản của Vũ Trụ Quan với nước (không khí,) thảo mộc, 18 kiến trúc giới trong bộ não của nhân loại, tâm thức nhân tạo trong computer và những ‘tác động lượng tử từ xa’ luôn luôn tương ứng và tương đồng như tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ.  Đặc điểm của liên kết lượng tử (quantum entanglement) là chúng được kết nối bằng một phương thức kỳ lạ mà Albert Einstein gọi là “Spooky action at a distance (tác động ma quái từ xa.)”

Sentient beings, specially human beings have a same origin not only as the single cell organisms but also have the same origin as particles, atoms, planets, stars, and the galaxies.  There is a very well defined architecture that governs this universal creation process and together formed the basis of a Universe’s Cognitive Process existing in particles (spooky actions as Albert Einsteincalled it,) water, plants, Eighteen Sphere structures in human brain, artificial consciousness in computer, which is created by Consciousness.

Trong Phá Mê Khai Ngộ, Chương 26. Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức, Lê Sỹ Minh Tùng viết: “Tâm [phan duyên, tâm vô minh, THL] thì dựa theo Lục căn để nhận biết Lục trần và phân biệt thành Lục thức mà Ngũ uẩn thì biến chuyển rất nhanh thành thử Tâm của con người cũng phải chạy theo [ví như  Tâm viên , ý mã.] Ý niệm đua nhau sinh khởi trong tâm thức của con người. Ý niệm sau thay thế ý niệm trước vì thế mà vọng tưởng không bao giờ dừng lại. Vọng tưởng còn thì chân tâm biến mất.”  Ngược lại, khi không còn vọng tưởng, kỳ tâm xuất hiện.    Đó là lý do, Đức Phật dạy chúng sinh phải giữ tâm của mình cho được thanh tịnh bằng cách loại bỏ tất cả mọi phiền não. Bởi vì vọng tưởng và phiền não biến tâm của chúng ta thành mê muội, mà vô minh là cội nguồn của tham, sân, si ‘kéo’ (pull) theo đau khổ trầm luân trong luân hồi.

Consciousness is also expressed in the basis of Hundred Dharmas that has the characteristics of existing in the form of energy, working within spaces, and existing in emptiness.  The Hundred Dharmas or the Universe’s creation process started with a Mind where the Mind are of eight kinds – the Eye, Ear, Nose, Tongue, Body, Mind, Manas, Alaya Consciousness.  However, the main creators are the first six Consciousness and the last two are auxiliary.

Tâm cũng được diễn tả trong căn bản của 100 Pháp (Hundred Dharmas) với sắc tướng hiện tượng trong dạng năng lượng, bàng bạt trong không gian,  hiện hữu trong chân như.  ‘Thiên pháp’ (Hundred Dharmas) hay chu trình cấu tạo của vũ trụ bắt đầu từ tâm thức.  Tâm thức gồm có mắt, tai, mũi, lưỡi, trí, mạc-na thức, và a lại da thức.  Tuy nhiên, những cái cấu tạo chính là 6 cái căn đứng trước nhất còn 2 cái thức sau cùng chỉ là phụ thuộc.

Tất cả do tâm tạo! (Ý Phật nói?) “With our thoughts we make the world.  The mind is everything.  What you think, you become.”  Buddha (?)

Tâm tạo ra tất cả trong vũ trụ chỉ đúng một nữa.  Có thể, 18 căn trần thức lừa bịp chúng ta bởi cái đo lường không chính xác của chính nó về thế giới hiện tượng và thực tại của nó có thể là ảo, không thực đúng như vậy.  Cho nên, thực tại là không thực tại mà là thực tại ở trong tâm phan.  Thực tại có thể chỉ đơn thuần là cấu trúc của ma trận (matrix) của tâm thức.  Thấy vậy mà không phải như vậy!  Điều có thể xảy ra đó là thực tại của chúng ta thực sự là không gian 2 chiều (X và Y,) không gian 3 chiều (Z,) và 4 chiều (thời gian) chỉ đơn thuần là ảo, trống không, như đã được giải thích rất quái gỡ trong cơ khí lượng tử (quantum mechanics.)

The thought makes the entire universe is only half truth.  Perhaps, our human six conscious senses are deceiving us by their inaccurate measurements of our world (Samsara,) existence maybe just an illusion, and reality isn't real.  Thus, all of reality exists only in our minds.   Everything we know maybe merely a constructed matrix of our thoughts.  Thing might not appear as we see and think as it is.  One possible implication is that the reality is actually two-dimensional (X and Y,) the three-dimensional space (Z,) and the fourth-dimensional (time) are merely a holography, which would explain some of the wackiness of quantum mechanics.

Đáo bỉ ngạn, trở lại bờ bên kia, có nghĩa là bỏ sáng (quang) trở về tối (dark) theo ngôn ngữ quái đản (spooky language) của con người.  Mà bờ tối đó vì không hấp thụ hay phản chiếu quang (ánh sáng) nên có thể không có luôn âm (tiếng động.)  Nếu chúng ta được cấu tạo và tiến hoá (evolution) trong môi trường đen tối đó thì chúng ta sẽ không cần ngũ uẩn và lục căn.  Chúng ta sẽ ‘không mắt, không tai, không mũi, không lưỡi, không thân và không thức’ vì tất cả nhửng giác quan này vô dụng bên bờ bên kia.  Chúng ta sẽ không là con người tầm thường mà có thể là ‘thượng đế?’  Điều này cho thấy Bát Nhã Tâm Kinh đã diễn tả chính xác cái ‘ngũ uẩn giai không,’ cái tánh Không tuyệt diệu bên bờ tối đó mà khoa học đến bây giờ vẫn còn chưa thông nổi ý này.

Back to another side, in this case means ‘go to bright side with light’ ‘back to’ the dark side without light with dark energy and dark matters.  Since dark side neither emits light nor absorbs light and probably it produces no noise and if  we are evolved in those environments perhaps we would not need these six sense organs.  We might have no eyes, no ears, no nose, no tongue, no body, may be no mind as expressed beautifully in Buddhism Heart Sutra, which are the five aspects of human existence are empty and six sense organs are non-existence, all things are emptiness.  If that the case then we might not call ourselves as a human being but ‘super-being?’

Tóm lại, cái quan niệm phổ thông từ trước đến nay của tâm tạo ra tất cả vô lượng vật trong vũ trụ chỉ thật sự đúng trong vũ trụ hiện tượng với vật chất hữu hình có thể thấy, nghe, ngữi, nếm, sờ và biết được bởi tập tục từ vô lượng kiếp đầy vô minh của 18 Pháp giới, đó chỉ là 5% của sắc tướng quáng quang âm trong vũ trụ, trong 5% đó đầy ắp ảo sắc tạo bởi ngũ uẩn qua phản chiếu quang tạng ảo ảnh và những tiếng động (âm) ồn ào không thật tại từ tâm phan duyên được đo lường bởi 18 căn trần thức giới của Phật Giáo.  Nó không đại diện cho ‘bờ bên kia’ không có ngũ uẩn, khác với ‘ngũ uẩn hiện hữu nhưng chỉ là giai không’ kiến bởi ‘Quang Âm’ Bồ Tát ở ‘bến bên này.’ Bờ bên kia của chư Phật không có ngũ uẩn như bờ bên này để chiếu kiến giai không.  Bờ bên kia đầy không, vơi sắc; bến bên này đầy sắc, vơi không. Có không, không có!   

In short, the concept of ‘consciousness creating everything in the Universe’ is only true for an observable universe, which is only 5% observable matters, and full of non-emptiness that formed by five aggregates and consciously measurable by 18 Buddhism’s Spheres.  It does not accountable for another ‘dark side,’ which is subconsciously full emptiness of five aggregates.  The ultimate truth of ‘emptiness of emptiness’ should be resolved by the modified Heart Sutra (The Prajñāpāramitā Sutra) formula “asBodhisattva Avalokitesvara practiced the profound Prajnaparamita,  Bodhisattva Avalokitesvara saw that the ‘universe’ is ‘emptiness of emptiness.’  That is non-dualism!

Cho nên phải “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm diệu viên giác Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến vũ trụ giai ‘không của không’.”  Khi đó mới ‘như thị viên giác’ (thấy rốt ráo với không tánh, bất nhị, anh minh, sáng suốt tròn đầy) thấu đạt được tâm tướng là tâm không; không tâm là tướng tâm!

Nguồn: thuvienhoasen.org