Vĩnh Minh Tự Viện

Sunday, Dec 17th

Last update03:45:22 AM GMT

Đường dẫn hiện tại Giới Thiệu Giới Thiệu Kiến Trúc Vĩnh Minh Tự Viện

Kiến Trúc Vĩnh Minh Tự Viện

Email In PDF

I.    Dẫn nhập

Từ khi đạo Phật có mặt trên mảnh đất Việt Nam thì hệ thống chùa chiền cũng có mặt để nhằm đáp ứng nhu cầu truyền giáo cho mọi lớp quần chúng. Ngôi chùa trở thành hình ảnh quen thuộc của con người Việt Nam, ngôi chùa trở thành điểm dựa tinh thần và là biểu tượng văn hóa của đất nước Việt nam. Nói đến hình ảnh văn hóa Việt Nam là nói đến hình ảnh cây đa, mái chùa. Đất nước dù có phát triển có thay đổi nhưng hình ảnh mái chùa đã bắt rễ ăn sâu trong mỗi tế bào người dân Việt. Bởi vì, Phật giáo là bạn song hành với dân tộc, cùng nếm trải gian lao, cùng thịnh suy với đất nước, cùng hát khúc ca khải hoàn, Phật giáo là cái hồn của dân tộc.

 

“Mái chùa che chở hồn dân tộc”.

Ngôi chùa Việt nam đã trải qua hơn hai mươi thế kỷ, chịu bao thăng trầm của đất nước nhưng mái chùa mang một trách nhiệm cao cả là nơi để giáo dục đạo đức cho mọi tầng lớp. Cho đến ngày hôm nay, song hành cùng cùng với phát triển của đất nước Việt Nam thế kỷ hai mươi mốt, ngôi chùa cũng lại là nơi đáp ứng nhu cầu văn hóa, tín ngưỡng truyền thống và là nơi đáp ứng nhu cầu giáo dục trong cuộc sống hiện tại.

Nói đến tự viện là nói đến lối kiến trúc. Mà nói đến kiến trúc thì nói đến lối kiến trúc chùa tháp. Kiến trúc chùa tháp là sự tổng hòa của kiến trúc cảnh vật và môi trường, có các loại nhà cửa quan hệ hữu cơ với hồ ao, sân, vườn đủ loại cây cao thấp, phần nhiều các công trình kiến trúc chùa tháp được quây lại bằng hàng rào hoặc tường xây.

Khoảng từ thế kỷ XVII trở lại đây, kiến trúc chùa tháp ở Việt Nam  mỗi ngày một tinh tế hơn. Con người càng ngày càng văn minh, đất nước càng ngày càng tiến bộ, chính vì lẽ ấy mà kiến trúc chùa tháp cũng phải có một vài thay đổi và chú trọng đến mỹ thuật để phù hợp với thời đại mới. Kiến trúc Vĩnh Minh Tự Viện hết sức đặt biệt, một lối kiến trúc vừa cổ kính lại vừa hiện đại, một lối kiến trúc dung hợp hài hòa của những nước văn minh Á châu. Một vài hòn đá nhỏ, một vài thớt gỗ nhỏ, với bàn tay sáng tạo đã đưa giá trị thẩm mỹ tự viện của Việt Nam lên đến đỉnh cao. Vĩnh Minh Tự Viện có những kiến trúc với giá trị thẩm mỹ cực kỳ sắc sảo. Chính vì lẽ đó, người viết xin chọn kiến trúc Vĩnh Minh Tự Viện làm tiểu luận để giới thiệu kiến trúc và mỹ thuật Phật giáo Việt Nam thời hiện đại này.

II. Nội dung

1.    Vài nét sơ lược tiểu sử ngôi chùa

Từ thành phố Hồ Chí Minh lên Đà Lạt, ngang qua cầu Đại Ninh, chúng ta sẽ gặp một ngã ba dẫn vào ngôi làng nhỏ. Làng chùa, cách gọi thân thương của người dân bản xứ để chỉ một thôn nổi tiếng với chùa chiền, am thất của những tu sĩ Phật giáo. Làng chùa Đại Ninh mà địa danh hành chánh hiện tại là thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Vị khai sơn Vĩnh Minh Tự Viện là Hòa thượng Thích Tâm Thanh. Hòa thượng vốn xuất thân từ khóa Cao Đẳng Phật học Huệ Nghiêm. Năm 1971, sau khi học xong Đại học Vạn Hạnh và đang là Giảng Sư Viện Hóa Đạo tại Sài Gòn, Hòa thượng đã lên vùng núi rừng Đại Ninh cất một thảo am để tịnh tu sau những công tác Phật sự bề bộn tại Sài Gòn. Nhân duyên hội đủ, Hòa thượng được một Phật tử cúng cho mảnh đất, mà thực chất là một ngọn đồi. Năm 1973, thảo am biến thành thạch thất, một cốc đá vuông vức 4m với mái lá đơn sơ và bốn bề rừng rú, nơi lưu trú của vô số khỉ vượn, heo rừng, sóc nhím và chim chóc.

Năm 1983, Tăng chúng theo học ngày càng đông đảo, để đáp ứng nhu cầu tu học của Tăng ni và Phật tử, Hòa thượng chỉ xây dựng ngôi chánh điện chỉ 30m2, nép mình dưới tàn cây cổ thụ. Năm 1985, tịnh thất Chơn Nghiêm được đổi thành Vĩnh Minh Tự Viện với đầy đủ tiền đường, hậu tẩm và cả 2 lầu chuông trống. Đó là giai đoạn cực kỳ khó khăn, khi mà con đường dẫn vào Vĩnh Minh Tự Viện chỉ là một lối mòn giữa hai bờ lau cỏ, ximăng phải mua từng ký, cát gạch phải vát từng bao từ dưới triền đồi lên đỉnh dốc. Thế mà ngôi tự viện vừa mới hoàn thành, nghiễm nhiên nó trở thành nơi quy hướng của người dân xa gần về chiêm bái. Năm 1993, được phép của UBND tỉnh Lâm Đồng cấp, Hòa thượng đã đặt đá xây dựng ngôi già lam với quy mô lớn hơn. Sau một năm trùng kiến, ngôi chánh điện được hoàn thành.

Vĩnh Minh Tự Viện vốn được Hòa thượng Viện chủ đặt với ý lấy hiệu của Tổ Vĩnh Minh Trí Giác Diên Thọ thiền sư. Vĩnh Minh là vị Tổ thứ 3 của Tông Pháp Nhãn, vừa là vị Tổ thứ 6 của Liên Tông Tịnh Độ. Như vậy, ý của Hòa thượng Viện chủ là chủ trương thiền tịnh song tu, lấy thiền định làm nền tảng an tâm và lấy pháp môn niệm Phật làm tu hành thực tiển. Hai chữ Vĩnh Minh còn là tên ghép của hai vị Tổ sư nổi tiếng ở Quảng Nam, quê hương của Hòa thượng Viện chủ. Đó là tổ Minh Hải Pháp Bảo, nối dòng Lâm Tế đời thứ 34, Tổ khai sơn chi phái Lâm Tế Chúc Thánh, và tổ Vĩnh Gia, một bậc Tông tượng thiền lâm Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Khi xây dựng Vĩnh Minh Tự Viện, Hòa thượng muốn dựng lại hình ảnh sống động của giáo đoàn Đức Phật ở Kỳ Viên tịnh xá hơn 2000 năm trước tại cao nguyên Lâm Viên ngút ngàn sương khói.

2.    Kiến trúc của ngôi chùa

Vĩnh Minh Tự Viện được hình thành và phát triển qua nhiều năm tháng, các kiến trúc dần dần được phát sinh chứ không có một quy hoạch tổng thể từ ban đầu, do vậy không có một kiến trúc liên đới nhất quán như những tùng lâm Trung Quốc ngày xưa, mà từng công trình nhỏ tạo thành già lam nằm rải rác trên triền đồi vắng lặng. Nói chung, toàn bộ kiến trúc chia làm thành 3 nhóm: Các công trình khác, ngoại viện và nội viện.

2.1    Các công trình kiến trúc khác

Vừa bước đến Vĩnh Minh Tự Viện, chúng ta thấy ngay một cổng nhất quan, một kiến trúc Nhật Bản đơn sơ nằm giữa muôn ngàn hoa lá. Kế đến là một chiếc cầu nối lên cổng tam quan và dẫn lối vào chùa

 


Tam quan có một lối kiến trúc đặc sắc. Đó là một tam quan khá sinh động được cấu tạo bằng đá núi tự nhiên, lớn có nhỏ có, chất lại thành một kết cấu hài hòa mỹ thuật, đầy thiền vị giữa những cánh rừng nguyên sinh. Bên phải tam quan có pho tượng Quan Âm đứng trên đầu rồng cuộn mình từ mặt hồ nước lặng. Bên trái tam quan là Bồ Đề Đạo Tràng với pho tượng Bổn sư được che chở bởi 9 con rồng lớn uốn lượn. Dưới Bồ đề đạo tràng là pho tượng Phật Niết bàn dài 20m, khuôn mặt tượng Phật vừa từ bi vừa thanh thoát, hiếm thấy trong nghệ thuật điêu khắc Việt Nam đương đại. Nép dưới những tàn cây là những pho tượng Phật xuất gia, liên trì với tượng tứ chúng chầu bái đức Bổn sư. Ở khu vực gần chánh điện còn có vườn Lâm Tỳ Ni, Cửu Hoa Sơn( động Địa Tạng).

Năm 2000, xây dựng ngôi bảo tháp Minh Tích Ấn. Đó là một ngôi tháp nằm bên trái của lối bên trái của cổng đi vào. Đây là một ngôi tháp cao 8 tầng, bên trong 3 tầng. Tầng trên cùng thờ Xá lợi Phật được thỉnh từ Tích Lan về, tầng 2 thờ đất thiêng từ tứ động tâm (nơi Đức Phật đản sanh, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập diệt ở Ấn Độ). Tầng dưới cùng thờ Phật Niết Bàn bằng đồng nguyên khối có nguồn gốc từ Thái Lan.

Bên cạnh bảo tháp Minh Tích Ấn là Chơn Nghiêm bảo tháp, đây là ngôi bảo tháp của cố Hòa thượng Thích Tâm Thanh, người đã khai sơn ra Vĩnh Minh Tự Viện này. Chơn nghiêm bảo tháp là một ngôi tháp đặt biệt, bởi vì toàn bộ ngôi tháp làm bằng đá. Ngôi tháp uy nghi nhưng không sử dụng vật liệu bê tông cốt thép nào. Ngôi tháp là những khối đá từ Hải Phòng mang vào, nhờ vào bàn tay tinh xảo của những người thợ chạm trổ, và những khối đá ráp lại thành bảo tháp đứng vững giữa nền trời mây trắng.

2.2     Ngoại viện

Ngoại viện là một tổng thể kiến trúc lớn gồm chánh điện, hậu tổ, giảng đường, Tăng đường, trù đường và liêu xá.

2.2.1    Chánh điện

Qua khỏi cổng tam quan, bước lên vài chục bậc tam cấp, chúng ta thấy một sân rộng, những chậu bon sai đủ dáng đủ vẻ nằm trên một sân được lót bằng những tấm bê tông hịnh lục giác rất đẹp. giữa kẻ của những tấm bê tông là những đường chỉ của cỏ Nhật được cắt tỉa gọn gàn trông thật đẹp mắt. ẩn tàng dưới những rặng cây lớn vừa cổ kính vừa trang nghiêm đó là chánh điện Vĩnh Minh Tự Viện. Chánh điện là một kiến trúc đặt biệt cổ kính theo mô thức Trung Hoa, hướng về phía Nam. Chánh điện kiến trúc hình chữ Đinh, mái cổ lầu được chạm trổ kỹ lưỡng với biểu tượng tứ linh và những bức phù điêu miêu tả cuộc đời Đức Phật. Tường điện bên ngoài ốp đá, xen lẫn những đẩu củng là những bức phù điêu tạc 18 vị A La Hán. Phía trước, trên những bậc tam cấp là hàng cột với những câu đối sơn son thép vàng giữa hai hàng bao lam vi nhiễu. “Vĩnh Chấn Thiền Gia, Pháp Nhãn Chân Truyền Tuyên Niệm Phật. Minh Xương Tịnh Độ, Liên Tông Tam Tổ Vị Tịnh Tham Thiền”. Vách  trước hai lầu chuông trống có hai bức phù điêu lớn tạc sơn tùng lộc tượng. Vào bên trong chánh điện mới thấy hết được nét độc đáo của kiến trúc đặc thù giữa lòng sơn tự. Chánh điện thờ Tam Thế Phật Phật Di Đà, Quan Âm, Thế Chí cùng vài pho tượng khác. Bên trên các tượng Phật, thay cho bảo cái là một ngôi tháp cao vút lên trên mái chùa, đó còn là nơi lấy không khí từ bên ngoài vào và làm cho âm thanh tụng kinh vang vọng ngân xa. Trần điện là những mảnh gỗ nhỏ chạm hình hoa sen nổi ghép lại rất công phu, nền điện là những mảnh gỗ nhỏ ghép lại láng bóng. Vách điện là một kiểu thức rất độc đáo, từng thớt gỗ cưa tròn không đồng đều nhau hết sức công phu tỉ mĩ và tinh xảo. Đặc biệt hơn, trên vách điện ấy có hai câu đối nói lên pháp âm của Đức Phật nơi vườn Lộc Dã thuở nọ giữa chốn sơn dã tịch liêu. “Kỳ Viên Dữ Lâm Viên, Tự Cổ Đạo Tràng Y Nhiên Như Thử. Lộc Dã Đồng Thôn Dã, Tòng Lai Pháp Hội Thượng Tại Như Tư”.

Tiếp nối mạch nguồn uyên nguyên của Phật pháp, đem ý đạo nhiệm mầu vào phổ độ chúng sanh; trời đất núi sông đâu chẳng phải pháp thân, người vật cỏ cây đều bao hàm Phật tánh.“Chi Ngoại Sơn Hà Đại Địa, Sắc Đồng Phi Sắc toàn Hiện Pháp Thân. Kỳ Gian Thủy Diểu Thọ Lâm, Tình Dữ Vô Tình Hàm Tuyên Diệu Đạo”.

2.2.2    Tổ đường

Sau chánh điện, cách một khoảng sân rộng là ngôi Tổ đường, nổi bậc là hai bức phù điêu hổ khê tam tiếu và bích diện cửu niên. Kiến trúc Tổ đường tuy nhỏ nhưng cũng khá đẹp. Với chủ trương thiền tịnh song tu, hạnh giải tương ứng, đề cao Việt tính, Tổ đường không thờ Bồ Đề Đạt Ma như các ngôi chùa khác, mà thờ Tì Ni Đa Lưu Chi, Sơ tổ thiền tông Việt Nam. Trước bàn thờ có hai câu đối chữ nho thể hiện ý thiền tịnh song hành mà khi đọc lên bằng âm Hán Việt, ta thấy vô cùng thích thú.

“Đông Độ Đạt Đốn Đạo, Độc Đáo Đa Đoan, Đồng Đăng Đại Định
Tây Thiên Truyền Thắng Thuyết, Tổng Trì Tiểu Tiết, Tốc Thoát Thanh Trì”.


Đông lang và Tây lang là hai dãy lầu dành làm liêu phòng cho Tăng chúng bên trên, linh đường và trai đường bên dưới. Bên trái chánh điện là một ngôi giảng đường rộng và thoáng, nơi thuyết giảng cho Tăng ni và Phật tử. Xung quanh những kiến trúc này là nhiều hoa kiểng, phong lan, hòn non bộ, nghinh phong các cùng nhiều lối cỏ xanh non.

2.3     Nội viện

Nội viện nằm phía bên trái cổng đi vào, với hai hàng tùng xanh ngắt cao tít  như dẫn vào lối. Đó là một khu vực yên tĩnh và thoáng mát, gồm hai dãy nhà ngang với kiến trúc nhẹ nhàng đơn giản. Dãy phía trước là Tàng Kinh các, nơi tôn trí Đại Chính Tân Tu Đại Tạng kinh và Đại Tạng Tân Toản Vạn Tục Tạng kinh cùng nhiều kinh sách khác. Dãy phía sau là những Tăng phòng dành cho những vị chuyên tu nhập thất. Giữa hai dãy nhà là một hòn non bộ lớn.

3.    Vài nét đánh giá về sử dụng không gian ngôi chùa và những cảm nhận thẩm mỹ

3.1     Không gian và những nét thẩm mỹ trong chánh điện

Khoảng hơn 5 km vuông mà có đến vài chục ngôi chùa tại vùng này, nên người ta gọi nơi đây là vùng chùa Đại Ninh. Vĩnh Minh Tự Viện là một trong những ngôi chùa khá đẹp tại vùng này về lĩnh vực kiến trúc. Không gian trong chánh điện không lớn lắm, ánh sáng vừa phải, rất hợp với việc tụng kinh lẫn tọa thiền. Trong không gian chánh điện được bày thiết với hai bàn thờ Phật, bàn trên thờ Tây Phương Tam Thánh, bàn dưới thờ một tượng Di Đà, Vĩnh Minh Tự Viện chuyên tu pháp môn Tịnh Độ nên chú trọng đến việc thờ Phật Di Đà. Khoảng cách giữa bàn thờ trên và bàn thờ dưới khá rộng và nằm trên bục cao, nơi đây là không gian dành cho chư Tăng hành lễ rất trang nghiêm. Từ bàn thờ dưới ra tới cửa là vị trí của các Phật tử thường ngồi niệm Phật. Nghệ thtuật thẩm mỹ trong ngôi chánh điện rất đẹp, gần như là đạt đến điểm tuyết đối. Toàn bộ chánh điện được trang trí bằng gỗ, đây là một nét đẹp và rất gần gũi với chúng ta. Sàn nền cũng lót bằng gỗ, vừa có nét đẹp thẩm mỹ vừa đảm bảo cho việc ngồi niệm Phật được bình yên, vì nơi đây là vùng khí hậu lạnh mà lót nền gỗ chúng ta ngồi sẽ được ấm hơn. Trên trần cũng bằng gỗ, hoa văn chạm trổ rất sinh động, chúng ta nhìn lên rất đẹp như lạc vào cảnh giới bình yên của mười phương chư Phật. Toàn bộ chánh điện nhìn từ tổng thể đến từng chi tiết nhỏ chúng ta thấy rất hài hòa. Mỗi chi tiết nhỏ đều rất chú trọng đến phần thẩm mỹ của nó.

3.2    Không gian nơi giảng đường


Giảng đường Vĩnh Minh Tự Viện không theo bản thiết kế từ lúc ban đầu, vì nhu cầu học tập và thính pháp của chư Tăng và Phật tử nên giảng được mở rộng để đáp ứng với số lượng. Chính vì vậy mà giảng đường được nối thêm đến ba lần. Chính vì vấn đề này nên giảng đường có rộng, giảng đường có thể chứa đến 1000 người ngồi nghe pháp. Nhưng có khuyết điểm là không được cao và không đủ ánh sáng. Giảng đường này thường dùng làm Trai đường để trai Tăng, số lượng chư Tăng rất đông, có khi cả 500 đến 600 vị, giảng đường không đủ độ cao. Nhưng do khí hậu nơi đây khá mát mẽ, không làm ảnh hưởng đến sự thanh tịnh của chư Tăng, ngược lại với giảng đường hơi thấp, không đủ ánh sáng như vậy thì rất khó cho việc tổ chức các khóa lễ. Giảng đường này chủ yếu chú trọng về vấn đề diện tích nhưng không chú ý lắm đến phần thẩm mỹ của nó.

Vì ngôi chùa nằm trên một ngọn đồi nên các không gian kiến trúc khác khá hoàn chỉnh, tùy theo địa hình từng khu vực nên việc bố trí các công trình khác kể cả công trình phụ cũng rất hợp lý. Từ khu vực nội viện lẫn các công trình ngoại viện, vấn đề kiến trúc rất chú trọng đến không gian và thẩm mỹ. Nhiều công trình kiến trúc phải kết hợp giữa văn hóa của nhiều nước của nhiều nước khác nhau kể cả Nhật Bản, Trung Hoa.v.v. nhưng tất cả các công trình kiến trúc đều mang ý nghĩa của lối kiến trúc Việt Nam.

Pháp môn hành trì của ngôi Vĩnh Minh Tự Viện là pháp môn tịnh độ, nên công trình kiến trúc từ trong ra ngoài mang một nét vẻ nhẹ nhàng thanh thoát, các hoa văn mang một ý nghĩa rất tinh tế. Chúng ta thấy cổng tam quan bằng đá, các miếng gỗ ghép trong chánh điện.v.v. mỗi viên đá, mỗi miếng gỗ có mỗi hình ảnh khác nhau nhưng do sự sắp xếp khá hợp lý nên trở thành công trình rất hoàn chỉnh và rất đẹp mắt. Vấn đề này ảnh hưởng rất lớn đến sự tu tập của ngôi tự viện, con người dù có người lớn người nhỏ, có người thiện người ác, có người tin và không tin.v.v. nhưng bước vào chùa, hành trì thâm sâu pháp môn niệm Phật thì phần nhiều mọi người đều trở thành những người tốt

4.    Ý kiến đề xuất

Vĩnh Minh Tự Viện kiến tạo khoảng thập niên 90, nên công trình khá là mới mẽ và hoàn chỉnh. Chính vì vấn đề này nên người viết cũng không đề xuất ý kiến tôn tạo gì mới, chỉ đề xuất vài nét nhỏ mà thôi.

Vĩnh Minh Tự Viện nằm trên một ngọn đồi ắt hẳn việc xây dựng rất khó khăn, mỗi công trình không nằm gần nhau nên rất khó khăn về mặt sinh hoạt. Ví dụ từ nhà Tăng đến nhà trù khá xa mà không có mái che, rất bất tiện cho việc sinh hoạt hằng ngày vào mùa mưa. Nhưng nằm trên ngọn đồi chúng ta vẫn phải chấp nhận việc khó khăn này. Chùa nằm trên đồi, nước sinh hoạt hằng ngày phải lấy từ giếng, giếng rất sâu. Nếu cúp điện trong thời gian dài cũng rất ảnh hưởng tới việc sinh hoạt. Hơn nửa, mùa nắng là nguồn nước hơi bị khó khăn, chính vì vấn đề này rất làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và những cây cỏ làm màu xanh của tự viện bị giảm sút.

Chánh điện, tổ đường, Đông lang và Tây lang gần như nối kết nhau tạo thành hình chữ khẩu, khoảng không gian giữa này lốt bằng men chống trược màu vàng như ta thấy ở tấm ảnh tổ đường trên. Khu vực này rất ít cây xanh, màu vàng sẽ phản ánh nắng nên mùa hè ta thấy rất chói mắt, chúng ta thêm vài chậu kiểng vào cho có màu xanh hơn.

Về mặt tu tạo, chúng ta thấy Vĩnh Minh Tự Viện phần nhiều dùng đến gỗ để trang trí, kể cả việc dùng gỗ để lốt nền. Mà chúng ta biết vùng đất Lâm Đồng là vùng đất đỏ ba dan nên rất nhiều mối. nếu như mối ăn và chúng ta thay những tấm gỗ mối ăn thì sẽ thấy tấm gỗ cũ và gỗ mới rtấ khác nhau. Chính vì vậy ta nên phủ PU lên gỗ để không thấy được tấm gỗ cũ và mới.

Giảng đường thì rất rộng, hơi thấp và thiếu ánh sáng, ta nên bắt thêm điện. Về mỹ thuật thì giảng đường rất khó trang trí, ta nên treo vài bức thư pháp, vài bức tranh thủy mặc để giảng đường được uyển chuyển và dễ nhìn hơn.

Khu vực tháp, không gian nơi đây rất rộng, ta nên trồng thêm đồi cỏ để có màu xanh. Ta nên đặt vài cục đá lớn ở khu vực này để thấy được nét hoang dã của nó.

III. Kết luận

Đạo Phật qua mấy nghìn năm truyền thừa, đã êm ả đi vào lòng dân tộc Việt Nam và trở nên một nguồn sống phong phú, linh động trong các mặt sinh hoạt của người dân mà sử sách của dân tộc đa ghi đậm những nét vàng son chói lọi trong suốt hành trình của đất nước. Có thể nói đạo Phật là đạo của dân tộc. Tinh thần Phật giáo đã là một thành tố văn hóa quan trọng nhất trong văn hóa Việt Nam. Dưới vòm trời Á Đông, không nơi nào chúng ta có thể tìm thấy một sự tương quan mật thiết, đậm đà tính dân tộc như Phật giáo Việt Nam. Ngôi chùa Việt Nam là một biểu hiện rõ nét nhất của nền văn hóa bao dung khoáng đạt giữa đời sống tâm linh và tự tình dân tộc Việt. Mái chùa bình yên còn đó thì tiếng chuông chùa vẫn còn mãi ngân vang để thức tỉnh nhân sinh. Tiếng chuông còn ngân lên thì truyền thống đạo lý của Tổ tiên còn có mặt, phẩm tính cao đẹp của dân tộc lại càng được phát huy. Hình ảnh ấy, âm thanh ấy là nơi hội tụ của cởi mở và bao dung, làm vơi đi những niềm đau, nỗi khổ của con người, tô bồi thêm cho một nếp sống thuần lương, chuyển hóa những trầm luân trở thành những quê hương thanh bình an lạc, để cho mái chùa và tiếng chuông vẫn mãi là nơi nuôi dưỡng hồn thơ và phong nhiêu tự tình dân tộc. Chùa Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam quá gần gũi, thân thiết, là một biểu tượng không thể thiếu trong sinh hoạt tinh thần của người Việt.

Ngôi chùa không những là nơi để mọi người hướng về để tìm cầu giải thoát tâm linh mà còn là cơ sở giáo dục cho đại đa số quần chúng. Giáo dục trong thời đại mới và góp phần xây dựng nền đạo đức mới để phục vụ cho mục tiêu an bình và hạnh phúc cho xã hội nhân sinh trong hiện tại cũng như tương lai. Chính vì vấn đề này nên xây dựng một ngôi chùa ta phải chú trọng đến phần kiến trúc và giá trị mỹ thuật của nó. Vĩnh Minh Tự Viện, một trong những ngôi chùa trong thời đại mới, với lối kiến trúc hài hòa, dung hợp nhiều nét đẹp của văn hóa Á Đông. Một ngôi chùa vừa cổ kính vừa hiện đại, có những công trình kiến trúc thật độc đáo, những hòn đá nhỏ, những thớt gỗ nhỏ cũng nói lên được cái hồn của nó trong ngôi tự viện này. Vĩnh Minh, một ngôi chùa thật đáng tự hào về kiến trúc lẫn mỹ thuật trong thời đại văn minh này.


THƯ MỤC THAM KHẢO

 

1.    Nguyễn Thị Ngọc Lan – Nguyễn Thế Cường., Kiến trúc cổ Trung Quốc. TP HCM: NXB Tổng Hợp TP HCM, 2004

2.    Nguyễn Bá Lăng., Kiến Trúc Phật Giáo Việt Nam, Sài Gòn: NXB Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1972

3.    Hà Văn Tấn., Đến Với Lịch Sử Văn Hóa Việt Nam. Hà Nội, NXB Hội Nhà Văn Hà Nội, 2005

4.    Thích Không Trú (chủ biên).,Lược Sử Những Ngôi Chùa Tỉnh Lâm Đồng. Hà Nội, NXB Tôn Giáo, 2008

5.    Võ Văn Tường., Danh Lam Việt Nam. (Tập Bài Giảng lưu hành nội bộ). TP HCM, 2007